HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

VỀ BỨC TƯỢNG “THƯƠNG TIẾC”

                    Hoài Việt

Đề cập đến tỉnh Biên Hoà, người ta không thể nào không nhớ đến nghiã trang quân đội, với trên 15 ngàn ngôi mộ của các chiến sĩ VNCH nằm xuống vì quê hương. Buồn thay sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền mới đã cố tình tìm cách triệt hạ, phá huỷ nơi yên nghỉ của những người đã chết, cũng như xóa sạch những gì do Việt Nam Cộng Hoà tạo dựng. Sau cùng nhứt, họ đã “dân sự hoá” nghĩa trang nầy (có nghĩa là muốn xoá bỏ hẳn hay rồi sẽ tìm cách san bằng, giao lại cho chánh quyền làm kinh tế)

 



Nghĩa trang Biên Hoà, nơi yên nghĩ của hàng chục ngàn

 tử sĩ Việt Nam Cộng Hoà.Trước cổng sừng sửng bức tượng.

 “Thương Tiếc”

Người dân miền Nam xuôi ngược trên miền đất nước thương yêu, hay ít ra môt lần bon bon trên xa lộ Biên Hoà,từ xa hẳn phải nhận thấy sừng sửng bức tượng.Trong phần kế tiếp, là những góp nhặt,sưu tập đôi điều “bí ẩn” đầy thích thú về bức tượng ,tuy không còn hiện hữu ngoài nhân thế,nhưng sẽ tồn tại mãi trong lòng chúng ta.

Tác giả bức tượng là điêu khắc gia Nguyễn Thành Thu. Ông sanh năm 1934 tại xã Bình Hoà, Gò Vấp(Gia Định),tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định.Ông được động viên vào quân đội, và cấp bậc sau cùng là đại uý.Những tác phẩm nghệ thuật của ông khá nhiều,nhưng phải kể những tác phẩm của ông thiên về quân đội nhiều hơn, như:Ngày Về, Chiến Sĩ Vô Danh, Trung Liệt. . và đặc biệt là bức tượng Thương Tiếc đặt trước cổng nghĩa trang quân đội Biên Hoà.Một bức tượng với nhiều kỳ tích, huyền thoại và phải gánh chịu bao nhục nhả oan khiên như chính tác giả và cả “bên thua cuộc”. 

. . .Khởi đầu, theo ý tưởng và mệnh lệnh của TT Nguyễn văn Thiệu, điêu khắc gia N.T.T  phải thực hiện một bức tương đặt trước nghiã trang quân đội Biên Hoà. Theo ý của T.T,bức tượng phải là cái”nhưn” của nghĩa trang.Nhận được lệnh, trong suốt mấy tuần lễ nghĩ suy và ngày nào ông Thu cũng có mặt nơi nghiã trang quân đội Hạnh Thông Tây,và luôn chứng kiến cảnh trực thăng mang những thi hài các quân nhân VNCH tử nạn từ chiến trường.Một hôm, ông vào quán uống nước ,chợt nhìn thấy cảnh một quân nhân binh chủng Dù, ngồi uống bia, miệng luôn to nhỏ tâm sự với một ly thứ hai trên bàn(mà không có ai ngồi).Anh lính dù như bất cần đời, chẳng quan tâm đến ai,ngay cả khi viên đại úy Thu muốn đến làm quen. Ông Thu vì thấy lạ, và hình ảnh anh lính dù như có gì khác thường, kỳ lạ lắm. Cuối cùng thì Ô. Thu cũng biết tên và đơn vị. Anh lính dù là hạ sĩ Vỏ văn Hai, người mẫu của bức tượng “ Thương Tiếc”.

Qua thời gian, Đ.K.G Thu đã nghĩ ra 6 đề án, và chưa có ý tưởng phác thảo hình ảnh anh Võ văn Hai, cho dù hình ảnh anh hạ sĩ Hai như luôn ám ảnh, gây ấn tượng vô cùng. Và rồi vào một ngày được lệnh, 




          Hình ảnh tượng “Thương Tiếc”(cận ảnh)

Trong khi chờ diện kiến T.T Thiệu, ông Thu lại nghĩ ra ý tưởng và ngay tại dinh TT, ông đã vội lấy bao thuốc lá (bên trong) phác thảo hình ảnh anh Hai,lại là hình ảnh phát thảo ông Thu ưng ý nhứt.Tuy nhiên,nếu trình mảnh giấy là bao thuốc lá cho T.T là điều “vô phép”.Nhưng như một phép lạ, một điều kỳ diệu là khi ông Thu mạo muội trình ra mãnh vẻ trên bao thuốc lá là: “có hồn” nhứt và T.T Thiệu lại chấp nhận. Thế là, ngay tại dinh T.T, ông Thu được  yêu cầu vẽ một phác thảo lớn hơn và  viên Đ.Tá  Cẩm, CVP/TT lạị là nguời mẫu bất đắc dĩ , với cả cây súng Garant đặt ngang đùi . Trong một phút xuất thần, hình ảnh Vỏ văn Hai hiện ra trong đầu, ông Thu đã vẽ xong hình ảnh phác thảo và được TT Thiệu ký tên vào. Phần kế  tiếp là đặt tên  cho bức tượng , ông Thu đề nghị các tên như:Khóc Bạn, Tình Đồng Đội, Nhớ Nhung, Thương Tiếc và Tiếc Thương.Cuối cùng TT Thiệu đã chọn tên “THƯƠNG TIẾC”.Thật buồn cười, hình ảnh viên đại tá với quân phục lắng cóong không phải là hình ảnh gây ấn tượng.Thế là ông Thu liên hệ với vị Tiểu Đòan Trưởng của Hai, và có tất cả 4 quân nhân(có vóc dáng cao ráo) được hưởng 3 tháng nghỉ phép, cho dù ông Thu chỉ để ý đến Võ văn Hai( cao khoản 1,60)mà thôi.(viên T. Đ.T thích thú và hãnh diện, đã tỏ ra hào phóng) Và rồi hàng ngày, anh hạ sĩ Hai mặc đồ dân sự đến làm người mẫu. Có những lúc, ĐKG Thu để anh Hai ngồi một mình, âm thầm “lén” nhìn   vào đôi mắt, chính đôi mắt đã hiện lên nét buồn ray rứt. Qua thời gian, ông Thu đã hoàn tất bức ảnh ưng ý nhứt, mà như đã nêu trên, căn bản chính là bức ảnh trên bao thuốc lá, chỉ khác lần nầy người mẫu là hạ sĩ Võ văn Hai(chớ không phải là đại tá Cẩm,chánh văn phòng của T.T Thiệu)

          Và cuối cùng sau 3 tháng, bức tượng bằng xi măng thành hình, được đặt trước nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà từ 1967 . Đến 1969, bức tượng được đúc bằng đồng, với hình tượng người chiến sĩ ngồi ngơi nghỉ cùng cây súng garant đặt trên đùi, đôi mắt xa xâm nhìn những đồng đội ra đi với lòng THƯƠNG TIẾC vô cùng(bức tượng đồng cao 6 mét,nặng 10 tấn)

Thật khá nhiều lời đồn đại về sự hiển linh của bức tưng như: đến nhà dân xin nước uống (sáng hôm sau nhìn thấy đôi giày trên bức tượng dính bùn). Nhảy xuống giải cứu những người bị cướp chận đường ,những tên cướp bỗng chết đứng. Có lúc đẩy tiếp xe rau cải từ Đà Lạt về bổng chết máy ngay tại nơi có bức tượng. Hỏi mua nhiều bánh mì ,nhưng sáng ra chủ bán bánh nhận ra toàn tiền vàng mã, trong khi mỗi nấm mồ trong nghĩa trang đều có một ổ bánh. Và còn nhiều chuyện nữa. . .Chuyện như thế nào, chẳng biết thực hư, riêng viên thiếu tá chỉ huy ĐĐ/hậu sự bán chánh thức nhìn nhận: “Chính ổng chớ chẳng ai” (Ổng đây là “người” ngồi trên bệ,là Võ văn Hai đấy).Sau đây là những mẫu chyện hoàn toàn có thật.

          Ngay sau ngày “đại thắng”, bức tượng đồng THƯƠNG TIẾC nơi nghĩa trang Biên Hoà đã bị kéo sập một cách KHÔNG THƯƠNG TIẾC, là lẽ đương nhiên. Riêng bức tượng bằng xi măng được mang về để sau gốc nhà ĐKG đã bị mấy mươi người kéo đến dập phá tan tành. Có lời đồn người mẫu Võ văn Hai bị tử nạn tại Quảng Trị, nhưng thật sự ông không chết. Hạ sĩ Hai bấy giờ đã là một ông già, đã từng đến tư gia ông Thu thăm 2 lần (trong khi ông còn “đi” cải tạo) và sau đó biệt tâm, vì e ngai bị truy tìm???.

          Riêng cá nhân ĐKG Nguyễn Thành Thu, sau khi cải tạo về, đã từng qua định cư tại Hoa Kỳ, nhưng vì lý do nào đó lại trở về quê nhà, lê kiếp đời nghiệt ngả, vụn vỡ với nổi THƯƠNG TIẾC đến hơi thở cuối cùng những bức tượng, những đứa con oan khiên năm nao cuà ông. (www.baotiengdan.com/2019 , http://batkhuatnet. . ) – Hoài Việt.

         

 

 


NHỚ BA




Con thấy từ xa, Ba ơi con thấy từ xa
Thân còm cỏi áo bà ba bạc màu
Lòng con luống những quặn đau
Thương con Ba chẳng quản bao nhọc nhằn
Đường xa đi lại khó khăn
Vậy mà mỗi tháng một lần chẳng nao
Thăm con tận chốn rừng sâu
Trại tù cải tạo biết bao nhiêu lần
Con mừng có được thức ăn
Nhưng buồn Ba phải cực thân quá nhiều
Nghiêng ngã vẹo xiêu, bóng Ba nghiêng ngã vẹo xiêu
Hai tay xách nặng, nắng thiêu đốt người
Ba ơi con vẫn nhớ lời
Khuyên con nhẩn nhục suốt đời từ đây
"Con ơi cầm lấy gói này
Là hai bánh thuốc hằng ngày cho con
Đốt theo năm tháng mỏi mòn
Ngày về Ba biết có còn hay không...???!!!

Bao năm ghi mãi trong lòng
Chuyện ngày xưa ấy vẫn không phai mờ
Ba ơi con cũng không ngờ
Âm dương cách trở đôi bờ chia phôi
Giờ con lưu lạc xứ người
Lòng luôn vẫn nhớ nhớ một thời đã qua

thơ HOÀI VIỆT (NINH TRƯƠNG) 


THƠ HỌA

 




 THƠ HỌA

(Bài Sóc Trăng ngày trở lại)

 

          Thắm thoát nay đã tròn năm hai tám

          Kể từ ngày tạm biệt xứ Sóc Trăng

          Quê hương tôi, chỉ những đồng lúa vàng

          Sao vẫn thương, vẫn nhớ từng tháng năm.

 

Nhớ ngày xưa, thời trẻ con quá quắt

Biết bao lần đứng lan can cầu quay

Chờ nước lớn đã đầy sông chuẩn bị

Nhảy “cái đùn”, nước vào mắt cay cay.

 

Ôi, chuyện ngày xưa, nay còn đâu nữa

Nào lạ chi cảnh thương hải tang điền

Cùng em Hoàng Diệu dệt mộng yêu đương

Chưa nắm tay,  tim đã đập liên miên.

 

Ôi, tình yêu là muôn màu diệu tuyệt

Như trái chin đầu mùa ngào ngạt hương

Đi bên em, ngu ngơ không dám nói

Dù trong tim bùng cháy lửa yêu thương.

 

Nhà của em gần ngả ba An Trạch

Thời chiến tranh, nhưng cũng khá bình yên

Là lính chiến, mỗi lần  tôi về phép

Môi em vẫn ngọt như lần đầu tiên.

 

Cùng bè bạn chèo xuồng về Kế Sách

Từ vàm Nhơn Mỹ, qua đến cù lao

Mặc hai đứa núp  lùm cây trốn biệt

Đám bạn bè mãi cười nói lao xao !!!

 

Qua Bãi Xàu, tôi về thăm quê ngoại

Kỷ niệm ngày xưa đâu dễ nào quên

Đến Vĩnh Châu, chợt nhớ mùi cải muối

Vườn nhản đầy bướm ong hút mật hoa.

 

Hai tám năm, Sóc Trăng ngày trở lại

Tóc đã hoa râm vẫn mãi trong lòng

Yêu rồi xa, ôi dễ gì tìm lại

Bóng người xưa, nghe lòng buồn mênh mông.

 

(Đây là  thơ “hoạ” bài thơ của một đồng hương Sóc Trăng.

Bài thơ quá dễ thương,HV nổi hứng hoạ lại,chắc không . . .

Rất tiếc(và xin lỗi),lạc mất tên tác giả.Thân kính mời đồng hương

                    thưởng thức trong khi chờ ngày con Covid trở về và chết tiệt tại nơi

                    nó được phát sinh. Hoài Việt    

                                      

 

 

 

 

NHỚ “QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ”

 

                                     

                                                                                                                                  Hoài Việt

            Quê tôi thuộc vùng sông Hậu, tại một tỉnh hiện hữu sự chung sống hài hoà, giữa người Việt cùng khoản 25% người gốc Cam Bốt và 5%người gốc Hoa. Đó là tỉnh Sóc Trăng, cũng như Trà Vinh ,xưa vài trăm năm đã có một số rất ít người Cam Bốt sinh sống. Dấu vết minh chứng sự hiện diện của họ là các ngôi chùa và cây thốt nốt. Người Cam Bốt hầu hết theo đạo Phật tiểu thừa, thường mỗi “sóc”của họ luôn hiện diện một ngôi chùa, là nơi hành lễ,  cúng Phật, và cũng là nơi “gởi tài sản” dành cho kiếp sau.  Và giống cây thốt nốt đuợc trồng trong sóc, trái ngọt như nước dừa dùng giải khát và nấu thành đường thốt nốt có mùi đặc trưng cũng là đặc sản của người gốc Miên (sẽ có dịp trình bày chi tiết). Như tại Trà Vinh, theo thống kê có tất cả khoản 300 ngôi chùa lớn nhỏ,và quê tôi Sóc Trăng cũng có khoản 100 ngôi chùa Miên ... Tôi được sinh ra tại Quận Long Phú ,”long” là hưng thịnh và “phú” là giàu có. Cũng có giả thiết khác,vì khoản trên hai thế kỷ trước, vào thời bôn ba tìm đường khôi phục nghiệp chúa, vì phải lẩn tránh sự truy sát của phe Nguyễn Tây Sơn, chúa Nguyễn Ánh đã “bôn tập”đến đây và được điạ phương  che chở. Đồng thời,trong lúc tạm cư tại một cù lao, cũng thuộc L.P, chúa đã ban ơn “mây mưa”(chơ không phải mưa mốc”) cho một thôn nữ xinh đẹp nào đó mang tên “Huỳnh Dung”, à chúa đã ban cho địa phương được dùng chữ “long” đặt tên điạ phương là Long Phú, riêng cái cù lao nơi sinh quán của cô thôn nữ ,được vinh hạnh mang tên “Dung”,tức cù lao Dung. Cũng có một thuyết khác về cái tên cù lao Dung, nhưng thôi cứ tạm nghĩ như vậy cho đời đẹp thêm. Nghĩ thiệt “làm vua chúa” sướng quá, đi đâu cũng được kẻ hầu ngượi hạ,được “đủ thứ”. . .Riêng phần mình, cũng sung sướng được dựa hơi vua, vì hơn 70 năm trước cũng đã từng  chạy loạn và “lánh nạn” tại nơi mà trên hai trăm mấy chục năm, vua Gia Long đã từng ... Sau đó, tôi trở về sống lại nơi được sinh ra, chuyện đã hơn 70 năm rồi, sao  tôi vẫn nhớ như mới hôm qua. Lúc nầy, gia đình cũng tạm đủ sống, riêng tôi trải qua một thời tiểu học với đầy ấp kỷ niệm, với những “quốc văn giáo khoa thư”. Nay ngồi nhớ lại, biết bao nhiêu chuyện ngày xưa. Tôi nhớ ngôi nhà lá ba gian, trong đó một gian làm bồ lúa,mảnh sân trước khá rộng, sáng ra, hàng chục gà vịt đủ cở tranh nhau mổ lấy mổ để những nắm lúa vừa vải ra. Trông bọn gà vịt thấy mà thương, vui vẻ hoà đồng,chỉ riêng chú gà trống,miệng luôn kêu vừa mổ vừa nhìn mục tiêu là các mụ gà mái, xem mụ nào cái... đít(xin lỗi) cái đuôi hơi xệ xệ là đang thời kỳ... mống chuồng.Tôi cũng còn nhớ rõ, mỗi lần “ấy” xong, chàng gà trống cao cổ gáy”ò ó o. ò. .o . . o . .o. .o” được ông nội tôi “phiên dịch” ra là “đời chỉ có thế mà thôi. . .  ”. Và tôi cũng nhớ khoảnh vườn nhỏ trồng rau, với hàng rào nơi những dây đậu rồng, đậu ván, bầu mướp xanh mướt tranh nhau bỏ vòi. Nhớ cả con sông trước nhà lúc khoản mười tuổi  đã biết dùng dây câu  gồm hơn chục lưỡi ném ra giữa sông, mỗi lần “thăm”  dính năm ba con cá út là thường, có hôm cả những con cá ba sa nặng hơn ký. Thông thường thì ngồi câu cá chốt và lòng tong, câu dính mệt nghĩ, nhưng  chỉ dành cho các gà vịt, vì người thân tôi không quỡn làm các thứ lòng tong lục chốt đó. Và một lý do khác, vào thời nầy tôm cá ê hề,không phải ăn những con cá nhỏ mất công. Nhớ, nhớ nhiều lắm, càng lớn tuổi càng nhớ chuyện ngày xưa, nhớ đến ray rứt thèm khát, ước mơ một ngày sống lại. Nhưng có lẽ, hình ảnh tôi nhớ nhiều nhứt là mái trường ngày xưa, nơi đã trải qua thời tiểu học với đầy ắp kỷ niệm. Đặc biệt, do hoàn cảnh riêng,tôi trải qua hai ba năm đầu tiểu học tại tỉnh. Trường học nằm ngay góc đường về Bải Xào. Ngôi trường sau nầy đưọc dùng bối cảnh cho hai bài hát của nhạc sĩ Thanh Sơn là “Nổi Buồn Hoa Phượng” và “Lưu Bút Ngày Xanh”. Hình ảnh thật khó quên, với những cây phượng hoa màu đỏ thắm, khiến tôi khó kềm nước mắt.Và cũng vì vậy tôi đã cố tập hát hai bài nầy, đến độ nhuần nhuyễn và ca “nghe cũng tạm”. . . Sau đó, đến lớp nhì nhứt lại về quê Quận L.P.   Từ nhà  đi vài  trăm thước đã tới trường học, nhưng thường  học trò chúng tôi đến trước cả  giờ để chơi với bạn.Những hôm lỡ quên, nghe tiếng trống tựu trường  vang vọng... ôm cặp chạy một mạch cũng còn kịp. Tôi nhớ mái trường xua, nhớ cả những bài hát, mà một trong những bài thật dễ thương, là bản “ Trường Làng Tôi” của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu sáng tác năm 1948.

                        . . . Trường làng tôi,hai gian lá đơn sơ

                              Che trên miếng sân vuông mơ màng

                             Trường làng tôi, không giây phút tôi quên

                             Dù cách xa muôn trùng , trường ơi. . .

            Thương quá, quê nghèo của ông nhạc sĩ, nghe đâu sau đó ông ấy đã đi theo “kháng chiến” và rồi cũng “than ôi”, chuyện đời không như ông nghĩ. Ông đã lầm,thiệt đáng tiếc và tôi nghiệp cho ông ,cho cả hàng bao muôn ngàn người đã lầm như ông.Riêng ngôi trường của tôi to lớn hơn nhiều, không phải hai gian lá đơn sơ, mà là một dảy nhà gạch,lợp ngói đỏ chót.  Trước trường khoản sân rộng, với nhiều cây còng khá to. Suy nghiệm ra, chắc đây là nơi đã có ngôi trường củ, vào khoản 1950, thời chánh phủ Quốc Gia Việt Nam đã xây lại ngôi trường mới.  Thời nầy, học sinh đi học ngày 2 buổi, mỗi sáng tất cả học sinh tề tưụ trước sân long trọng làm lễ chào cờ, được nhìn lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ. Ngày nào cũng vậy, sau lễ chào cờ,ông hiệu trưởng ban hiểu thị,nhắc nhở bao điều, xong học trò xếp hàng tuần tự vô lớp dưới “quyền điều khiển” cuả trưởng lớp,thầy hay cô chỉ đứng quan sát. Cứ lập lại mỗi ngày,có lẽ cũng chán, nhưng hình thức “nhồi sọ” quả  có nhiều điều bổ ích. Suốt cả khoản đời thơ ấu của tôi vào thập niên 1950 toàn đuợc xã hội, gia đình và trường học “nhồi vào những điều hay lẻ phải, giúp  học sinh nhớ đời đời. . .”. Tôi  nhớ như in, lá cờ vàng ba sọc đỏ luôn tung bay trước gió,như tung bay trong tâm tư mỗi học sinh chúng tôi.  Vào thời kỳ nầy, lá cờ vàng ba sọc là của “Quốc Gia Việt Nam” xuất hiện khắp Nam, Trung, Bắc( từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, ngoại trừ những vùng “chưa đươc giải phóng khỏi “giải phóng”). Đây là lá cờ chính thống của Việt Nam khi Pháp trả độc lập, với đức Quốc Trưởng là Bảo Đại và nội các lần lượt do Thủ Tướng Bửu Lộc,Trần văn Hữu,Nguyễn văn Tâm ... điều hành... Do vậy, cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của Việt Nam, không phải  của riêng Việt Nam Cộng Hoà sau đó ,(mà khi VNCH bị giải thể, cờ vàng phải mất theo.). Hoàn toàn không phải như vậy. Cũng nhân đây, xin ghi lại một sự kiện vô cùng quan trọng.Vào tháng 9/1951, Thủ Tướng của “Quốc Gia Việt Nam” là ông Trần văn Hữu đã long trọng tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong hội nghị quốc tế tại San Francisco (Hoa Kỳ), mà không gặp bất cứ sự phản bác nào của 51 quốc gia tham dự, có cả đại diện của Liên Sô(xem như thay mặt cho Trung Hoa). Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng,thế mà “họ” lặng im, vì rõ ràng Hoàng và Trưòng Sa là của Việt Nam tự bao đời. Họ hoàn toàn không có một lý lẽ gì để “mở mồm”.

            Ngày xưa, vào khoản 1950, chiến tranh chưa dứt hẳn, nhưng những tiếng súng cắc bùm chỉ xa xa đâu đó. Tại miền Nam nói chung,và riêng tại Quận L.P (tỉnh SócTrăng) của tôi thật khá thanh bình, đời sống người dân tương đối yên ổn, ấm no, mỗi năm chỉ làm một mùa lúa nhưng không thấy ai bị thiếu ăn. Lúa gạo không thiếu, tôm cá cũng dư thừa. Sông rạch vùng quê,đến mùa nước xuống, nước trên ruộng đổ ra sông, cá ục như cơm sôi. Về cá biển cũng thật dồi dào, gia đình có thể mua nguyên con các loại cá như thiều, rún và nhứt là cá cháy, nghe đâu từ vùng Đại Ngải đem về. Cá cháy mình dẹp dài trung bình khoản 5 tấc, thật ngọt thịt ngọt nước vô cùng. Có lẽ thời nầy đất rộng, người thưa, cuộc sống thật vô cùng thoải mái, dễ chịu  ấm no. (Vào khoản 1960, tự nhiên giống cá nầy không còn nữa).Bà con lối xóm trong Quận sống chan hoà, ai ai cũng quen mặt biết tên, kịp đến khoản 1956, xuất hiện “những người nói tiếng kỳ lạ”, cả chiếc ghe họ cũng lạ nữa, hơi dài đòn hơn,cùng lối người chèo nằm ngửa dùng 2 chân chèo .Đây là hình ảnh chưa bao giờ có tại thôn quê miền Nam.Cô bác trong làng xóm quê tôi nói : “họ không phải người Việt mình!”. Thỉnh thoảng những người nầy xuất hiện, xóm làng tôi từ từ biết ra, đó là “bắc kỳ di cư”. Thì cũng là đồng bào của mình, nhưng vào thời đó còn xa lạ. Họ sống trên ghe, chài cá mang ra chợ bán, rồi đi theo xóm, có người vào xin mớ củi, thường thì vui vẻ cho. Tôi còn nhớ, cũng có mấy lần họ cứ “tự nhiên” vào trong sân quơ lấy củi một cách thoãi mái, la thì bỏ đi, cũng có khi nói ngang là “của rơi chúng ông nhặt”.Rơi thế nào được, củi phơi trong sân... (Xin lỗi, tác giả còn nhớ rất rõ, chuyện có sao giờ kể lại, chớ “bắc kỳ di cư 54” là số một,tất cả đều là đồng bào).

Chuyện ngày xưa,kể chút cho vui. Sự việc đáng nhớ và muốn ghi lại trong đây là việc học hành,là “tình nghiã giáo khoa thư”trong thế hệ trẻ chúng tôi trong tất cả xã hội miền Nam thời ấy. Xã hội trong đó mọi người sống chan hoà, đối xử cùng nhau đượm tình làng nghĩa xóm. Hầu như không xảy ra những vụ đại loại như “ rót rượu không đều bị đâm chết”, “ trộm chó bị vây bắt ,đánh chết, đốt xác cùng chiếc xe, cả nhóm người thản nhiên đứng xem”, “hai nhóm nữ sinh đánh nhau, xé áo, học sinh nam dùng điện thọai di động thản nhiên quay phim”. . .  Thời đó, chánh quyền quốc gia Việt Nam vừa thu hồi độc lập, đã ra sức kiến thiết xây dựng, cụ thể như ngôi trường tiểu học quê tôi được xây mới. Việc học hành được tổ chức thật vô cùng chu đáo, tốt đẹp, nghiêm chỉnh. Về cấp học chia ra: tiểu, trung và đại học. May mắn,tác giả có cơ hội sống thực, xin ghi lại những đôi nét căn bản như sau:

Ở điạ phương nhỏ, chỉ có bậc tiểu học, lại chia ra 2 cấp: cấp sơ học gồm lớp “đồng ấu”(cours enfantin) hay lớp năm, lớp dự bị(cours préparatoire) hay lớp tư và lớp “sơ đẳng(cours élémentaire) hay lớp ba.Cấp tiểu học gồm lớp nhì một năm (cours moyen première anneé), lớp nhì năm thứ hai (cours élémentaire deusième année)  và “lớp nhứt”(cours supérieur). Học xong lớp ba, phải thi tuyển để vào lớp nhì. . . Cuối lớp nhứt, sẽ thi lấy bằng”sơ tiểu tiếng Pháp”. Thờì nầy, điạ phương của tôi cũng như đa số các nơi khác, thường mỗi Quận chỉ có một trường tiểu học, các làng có thể có trường sơ cấp (chỉ dạy đến lớp ba), thông thường tại các thôn ấp là lớp đồng ấu. 

Tại các tỉnh, thường chỉ có một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp nhứt). . Đại khái là vậy, nhưng đến khoản năm 1955 đã có thay đổi, cũng tùy thuộc địa phương phần nào, như có thêm lớp “tiếp liên” chẳng hạn.Và từ năm 1956, lại  thay đổi, học sinh giỏi cấp tiểu học, căn cứ vào học bạ, đủ điểm sẽ đươc cấp chứng chỉ tiểu học và được lên lớp đệ thất (trung học)  Tuy nhiên, chánh quyền vẫn tổ chức thi lấy văn bằng tiểu học, để ai có nhu cầu, với bằng tiểu học có thể xin đi làm việc “chữ nghiã” như thơ ký, cảnh sát. . .Vào thời nầy, trình độ của người có bằng tiểu học “cứng” lắm, không phải như nửa thế kỷ sau đó.Vào thờì còn đi học, là học sinh chỉ biết mang máng, sau tôi  có tìm hiểu thêm, nhưng không thể dài dòng chi tiết vì bài viêt có hạn định, không phải là một nghiên cứu toàn bộ QVGKT.. Đôi điều cần ghi ra đây là: thứ nhứt cơ chế giáo dục thời đó với nội dung đầy tính sư phạm, đào tạo cho con người biết điều hay lẽ phải, sống đạo đức, thương yêu đồng loại và nhứt là thương yêu quê hương .Thứ hai, chính nền giáo dục nầy là căn bản, nền tảng tiếp nối của giáo dục quốc gia Việt Nam Cộng Hoà sau đó, với 3 đặc tính  dân tộc, nhân bản, khai phóng.Thứ ba, mặc dù không có qui định nào bắt buộc, nhưng phụ huynh luôn muốn cho con mình “biết cái chữ”,đã lo cho con được đi học. Điều quan trọng nhứt cần ghi ra đây là, chương trình giáo dục cấp tiểu học thật khá đầy đủ, nhằm đào tạo học sinh với những tri thức căn bản và đạo đức căn bản giá trị muôn đời.

 Việc đi học hoàn toàn không có khó khăn chi, hoàn toàn không phải tốn tiền học phí, cũng không có bất cứ loại “phí” nào. Bậc tiểu học đã không đóng tiền, cả trên bậc trung học và đại học, đều như thế (ngoàị trừ trên đại học, có khi phải đóng lệ phí ghi danh với số tiền rất nhỏ). Được biết, lệ phí ghi danh một phần cũng để “giới hạn”những ai đó “ghi mà không học”, vì lúc nầy ngoại trừ một số đại học như: Y,Dược, Kỷ Thuật Phú Thọ, Quốc Gia Hành Chánh, Sư Phạm,Kiến Trúc phải thi tuyển khá cam go, các đại học khác như Khoa Học,Văn Khoa,Luật Khoa  thì... tự do ghi danh.(Xin đừng nghĩ tự do ghi danh là kém, không bằng phải qua kỳ thi tuyển).Đây nói về đại học công, về sau có thêm các đại học tư phải đóng học phí như: Vạn Hạnh,Minh Đức, Chánh Trị Kinh Doanh,Hoà Hão, Cao Đài. Như cá nhân người viết, xong tiểu học, tiếp tục lên tỉnh học lớp đệ thất “tư thục”(vì bấy giờ tỉnh  S.T chưa mở trường trung học công lập). Học tư thục phải đóng tiền,và không phải tư thục là “kém” hơn công lập vì rất nhiều tư thục qui mô, có tiếng tâm. Hơn thế nữa, thời nầy, giáo dục không phải là “thị trường buôn bán chữ nghiã”, nhưng nếu trường nào “dạy dở” sẽ khó tồn tại. Xin không dùng chữ “cạnh tranh”,nhưng trong bất cứ “sân chơi” nào đều phải mặc nhiên chấp nhận qui luật đào thải. Chúng ta đừng quên, tại Hoa Kỳ, đại học Harvard nổi tiếng số một, điều kiện vào học thật khó và tiền học phí cũng khá cao. Lý do, vì đây là một đại học tư.

Trở lại chuyện học hành của tuổi trẻ chúng tôi thời trước sau thập niên 1950, ở cấp tiểu học, mà nội dung chương trình học hầu như gói gọn vào “quốc văn giáo khoa thư”. Có lẽ một số quí vị trên dưới khoản 70 hoặc những bạn trẻ thế hệ hai, ba sẽ không bao giờ cảm nhận được “quôc văn giáo khoa thư” là gì. Cũng như chúng tôi thời đó chỉ hiểu đại khái mơ màng,thầy cô dạy gì thì mình cứ “cấm đầu cấm cổ” học,học và học. . .Và về sau nầy, vì nhu cầu, tìm hiểu lại xem , thì đúng y chang , “giáo khoa thư” toàn  dạy những điều tốt đẹp, đạo đức lễ nghĩa. Điều đáng nêu ra, khi chúng tôi ra ngoài xã hội, lối sống và cách hành xử cũng gần như “ y chang” những gì đã học trong “QVGKT”.  Nói hơi “thời sự” một chút, có thể xem đây như một  “cẩm nang,bửu bối chân kinh” dành cho những ai muốn tu luyện thành đạo sĩ hay kiếm sĩ.  Vì thời đó, ảnh hưởng tiếng Hán và Pháp còn nặng, phải xử dụng kiểu đặt tên như thế nầy,  “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” là “sách dạy học trò bằng chữ nước Việt”. Bộ sách do nhà cầm quyền Pháp, nhưng trực tiếp là Nha Học Chánh Đông Pháp(Đông Dương thuộc Pháp), giao cho các quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đổ Thận biên soạn. Bộ sách gồm 3 quyển :

                        -quyển dành cho lớp “đồng ấu” ,dạy về luân lý qua các bài tập đọc,tập viết.

                        -quyển dành cho lớp “dự bị”

                        -quyển dành cho lớp “sơ đẳng”

gồm các bài tập đọc với nội dung gồm: sử ký, điạ dư,cách trí(vạn vật),toán đố,vật lý, hóa học, vệ sinh,học thuộc lòng,chánh tả,tập làm văn và trên hết là môn đức dục với số giờ trung bình phải gấp đôi các môn học khác. Điều cần trang trọng ghi nhận là sách do thực dân Pháp chủ trương, nhưng nội dung hàm chứa tính giáo dục sư phạm rất cao, dạy làm con người tốt, hoàn toàn không đề cập về “chánh trị,hận thù” Trong toàn bộ bài học thường ghi lại những câu ca dao tục ngữ,vệ sinh (lớp đồng ấu), lịch sử, điạ dư, cảnh đất nước thanh bình,ấm no,hạnh phúc, nhứt là những bài dạy về lễ nghiã, thờ cúng tổ tiên, bổn phận làm con, thưong kính vâng lời giúp đỡ mẹ cha,thưong mến anh em đồng loại(lớp dự bị, sơ cấp). Tuyệt đối không có bài nào nói về chiến tranh, giết bao nhiêu quân địch. Trong bộ sách nầy, bàng bạc khắp các trang, là những câu ca dao tục ngữ, được học trò “thuộc lòng” đến nhuyễn nhừ như. . cháo bào ngư!!!

Dưới đây là một số câu, trong ngàn  câu tục ngữ mà cả đời, cả đến khi sắp . .về với ông bà, cũng “không dễ nào quên”:

                        -Tiên học lễ,hậu học văn

                        -Cá không ăn muối cá ươn

                        Con cải cha mẹ trăm đường con hư.

                        -Công cha như núi Thái Sơn

                        Nghiã mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

                        -Anh em như thể tay chân.

                        -Bầu ơi thương lấy bí cùng

                        Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

                        -Con ơi muốn nên thân người

                        Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.

                        -Cờ bạc là bác thằng bần

                        -Nhứt nghệ tinh,nhứt thân vinh. .

                        -Một cây làm chẳng nên non.

                        Ba cây chụm lại nên hòn nuí cao

Bài học nào cũng có hình ảnh minh hoạ,giúp học sinh vui thích,ham học.

Về giáo dục, tổ chức hình thức và nội dung thời Pháp thuộc, và kế tiếp thời “Quốc Gia Việt Nam” là tiền thân của Việt Nam Cộng Hoà.(Dĩ nhiên, luôn có những sửa đổi, bổ cứu theo tình hình, và tính chất “giáo khoa thư” vẫn còn đậm nét, ít ra tới thập niên 1960).Sách giáo khoa không đề cập “chánh trị”, nhưng về lịch sử, từng bài ngắn gọn, thật sút tích giúp học sinh biết căn bản những anh hùng liệt nữ đã anh dũng chống giặc ngoại xâm:Hai Chị Em Bà Trưng, Bà Triệu Trinh Nương, Ông Ngô Quyền, Ông Trần Quốc Tuấn, Ông Phan Thanh Giản. Ngoài ra, chúng tôi còn được dạy vẽ,nhạc lý và cả nữ công gia chánh(cho học sinh nữ)

                       


Trang Sách Tập Đọc “EmHọc Vần”

(- bản gốc, lớp Năm-thời VNCH- www.motgoctroi.com ).

                       

                      


                                              

           

            Trận Bach Đằng Giang

           

Để khái niệm cụ thể, có thể ghi ra đây ,nôi dung quyển “giáo khoa lớp đồng ấu”(là lớp nhỏ nhứt). Quyển sách gồm tất cả 55 bài , gồm những bài căn bản như sau: tôi đi học,yêu mến cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ, thân thể ngưòi ta, trưòng làng tôi, ăn uống có lễ phép, đứa trẻ có lễ phép, gọi dạ bảo vâng, người học trò tốt,đi đâu phải thưa về phải trình, thờ cúng tổ tiên, học trò đối với thầy, sớm tối thăm nom cha mẹ, anh em như thể tay chân, chú bác cô dì, phải sạch sẽ, thờ cha kính mẹ, thương yêu kẻ tôi tớ, đói cho sạch,rách cho thơm, cánh đồng quê nhà. . Trong số 55 bài, đã có tất cả 14 bài về công ơn cha mẹ, tổ tiên bà con. . Xem như vậy, bài học lễ nghiã luôn được đặt làm trọng tâm (www.ndclnh-mytho-usa.org/sach). Về trình độ học trò, ngay từ lớp đồng ấu đã biết đọc viết trôi chảy, rồi lớp tư, để xong “lớp ba” phải qua kỳ thi vào “lớp nhì”

                                  


Bài “Khấn Tổ Tiên”(Dạy ta phải nhớ ông bà tổ tiên)

           

                                  


 

Tôi Đi Học

                                   (Hình in lại trong cuốn Quốc văn Giáo Khoa Thư-1939)

 

 

Lên lớp nhì,lớp nhứt, học trò bắt đầu làm quen với khoa học căn bản , địa lý Việt Nam ,và cả một số nơi trên thế giới, biết một số căn bản về bệnh tật.  Thời đó, một học sinh xong tiểu học thuộc nằm lòng sông

Củu Long dài bao nhiêu,bệnh đậu mùa là gì và nhứt là biết căn bản lịch sử nước nhà, như đã nói trên.Học sinh chúng tôi cũng được dạy những bài thơ ca tụng quê hương,những gương hy sinh vì đất nước qua bài hát “Bạch Đằng Giang”, bài thơ “Chiến Sĩ Vô Danh”(của Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy).. . Học trò phải học thuộc lòng, với “chút gì đó phấn chấn trong lòng”, thường khi trả bài,đa số học trò phải cất giọng to vang đầy hùng khí. Học trò trả bài “nhừa nhựa’ hay nhỏ tiếng,thầy cô bắt làm lại,giọng phải to và hùng hồn, đôi khi còn phải diển tả bằng tay như đang diển kịch. Chúng tôi,sau hơn 70 năm, vẫn nhớ vanh vách bài “Bạch Đằng Giang, Hận Sông Gianh,Khoẻ Vì Nước và nhứt là bài thơ “Chiến Sĩ Vô Danh” của thi sĩ Đằng Phương,mà sau nầy biết ông ấy là  Thầy Nguyễn Ngọc Huy.Cá nhân chúng tôi mãi đến nay  vẫn còn nhớ,nhớ mãi. “tình nghiã giáo khoa thư”, lòng thương kính tổ tiên ông bà cha mẹ, cùng nghiã thầy trò cũng là quan trọng vô cùng.Thầy cô luôn thương yêu, tận tâm dạy dổ, xem học trò như con em.Đáp lại, học trò vừa thương kính và cũng vừa . . sợ nữa Tôi còn nhớ rõ như in, ở lớp năm, tư (lớp một,hai sau nầy), học sinh còn nhỏ,hầu như thầy cô chỉ khuyên răn nhắc nhở, không dùng hình thức phạt hay đánh đòn. Nhưng lên lớp ba,  học sinh đã bắt đầu biết “nếm mùi đời”, không thuộc  bài, lầm lỗi như chơi xấu , chửi lộn hay đánh bạn,hay không giữ vệ sinh , thường  bị khẻ tay bằng thước hay bị nhéo lổ tai đau điếng.Hình ảnh “nhéo lỗ tai” trông buồn cười vô cùng, thầy giáo dùng tay(y dài) kéo lỗ tai( I ngắn), học trò bị đau phải nhón gót lên.Thường một hai ngày, học sinh xếp hàng,đi ngang thầy hay cô, xoè hai bàn tay,nếu bị dơ hay móng tay dài sẽ bị “ăn” một khẻ nên thân. Trả bài không thuộc, học sinh sẽ phải chép lại bài vài chục hay cả trăm lần,nếu là câu ngắn. Chép ở nhà,hay ngày chúa nhựt phải vào lớp ngồi chép bài,dưới sự giám sát của thầy cô (gọi tiếng Tây là”còng xin”).Thời nầy , hầu như bất cứ môn nào cũng phải học thuộc lòng . Mỗi đầu giờ, thầy cô lật sổ kêu tên, cả lớp im lặng như tờ, trò nào được kêu tên, thường đứng lên bảng,khoanh tay trả bài. Nhờ vậy mà nội dung bài học như in sâu vào đầu, thuộc nằm lòng, khó  quên được.  Cũng có những học trò nghịch ngợm, khó dạy hay không chịu học bài, khuyên răn mà không nghe lời, không ít trường hợp thầy cô áp dụng “biện pháp mạnh”, từ dùng thước kẻ khẻ vào bàn tay, hoặc dùng roi mây(bằng ngón tay nhỏ khoản như cây viết chì và dài khoản một thước) đét vô . . mông đít đến nổi dấu đỏ chót.  Tôi còn nhớ rất rõ, hình như rất ít các cô học trò gái bị ăn roi mây.Chắc vì đa số các trò nữ siêng học,hay các thầy cũng không nỡ.(Trời tạo ra phái nữ, cái cặp mông của các trò khoản trên 10 tuổi đã nhu nhú,đâu phải để ăn roi mây hả trời. ) Là một học sinh,không thông minh nhưng siêng học, hầu như suốt cả hai năm cuối bậc tiểu học, tôi không bị “ăn” roi mây lần nào. Xin đừng tưởng là thầy cô quá nhẫn tâm, mà cũng vì muốn học sinh nên người.  Hình thức dùng roi mây thật không nên,nhưng hầu như thời đó không một ai phản đối, vì tinh thần nể trọng thầy cô,Thật vậy, thời đó vị trí xã hội thầy cô rất cao, đi đâu cũng được cha mẹ học trò trọng vọng,chào kính. Bậc cha mẹ học sinh là vậy, học trò càng kính trọng thầy cô, khi tiếp xúc  luôn khoanh tay cuối đầu. . . Hồi xưa đó, thời chúng tôi giềng mối”tam cương,ngũ thường” chỉ còn “hai cương”,tức “sư, phụ”, vì vua Bảo Đại không còn làm vua, chỉ là Quốc Trưởng, nhưng nghiã thấy trò còn “nặng” lắm. Câu ca dao”công cha,nghiã mẹ,ơn thầy” luôn được truyền tụng , trong dịp Lễ Tết, học trò phải nhớ” mồng một nhà cha,mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy”. Ngày mồng ba, học trò luôn nhớ ơn, dù đã thành n gười lớn, có gia đình cũng nhớ thầy ngày xưa, mang quà đến mừng tuổi.Quà không cần phải giá trị quí giá chi, thường là gói trà, bánh mứt cùng đôi đòn bánh tét. Hầu như đâu đâu cũng vậy, và chưa bao giờ xảy ra những chuyện học trò hổn hào, đừng nói chuyện học trò đánh thầy. Trong tình thầy trò, hầu như không bao giờ bị chi phối vì vật chất bạc tiền, hoàn tòan không có chuyện “gián tiếp hay trực tiếp’ bắt học trò mình phải “học thêm” lớp ngoài giờ do chính mình mở ra. Còn nhớ, năm 1955, học trò lớp nhứt chúng tôi lên tỉnh thi tiểu học, quả là một biến cố quan trọng, cả làng cả xóm đều biết. Năm lớp nhứt, học sinh phải thật chăm chỉ, học hành đến  nơi đến chốn và thầy chỉ dạy chi li từng chút,nhứt là cách giải những bài toán đố mà tôi còn nhớ mãi như “ hai  vòi lớn nhỏ mở ra trước sau”. . Vậy mà chưa yên tâm, để giúp học trò, thầy đã mở lớp học thêm vào buổi tối hoàn toàn không “ăn tiền”. Trong dịp nầy, nhiều học trò chúng tôi được cha mẹ mua cho cái đèn pin để soi đường. Thiệt là mừng hết biết,và cũng lạ nữa. Tôi mân mê cây đèn, thử rọi lên ngọn dừa thấy sáng trưng,rồi lại rọi lên trời thầm nghĩ “sáng tới trời, chắc vì xa quá không thấy” , nay ngồi nhớ lại thì thiệt là khù khờ ngu ngơ. Học trò chúng tôi thời đó, bạn bè thường chung lớp khoản năm năm, mỗi dịp hè xa nhau, làm sao quên được, học trò lớp nhì,nhứt chuẩn bị quyển  lưu bút ngày xanh thật đẹp, tô màu,vẽ hình bông hoa, chim cò,dường như có hình trái tim nhưng không có mủi tên xuyên qua rỉ máu. Một năm học kết thúc, đáng nhớ làm sao buổi lễ phát thưởng. Trong năm học, mỗi tuần đều có cộng điểm và mỗi tháng tổng kết,danh sách học sinh với thứ hạng danh dự được ghi trên bảng treo lên tường. Thường học sinh hạng nhứt nhì ba được xướng tên lên nhận bằng danh dự,thật . . . danh dự vô cùng.Càng “ngon lành” hơn, mỗi sáng chào cờ đầu tháng, học sinh hạng danh dự còn được xướng danh, lên đứng xếp hàng đón nhận bằng danh dự do thầy hiệu trưởng và thầy cô ban cho,thiệt không gì vui sướng hơn.Cá nhân chúng tôi khá siêng học, luôn đứng nhứt nhì, vui mừng lắm và còn được thầy tin tưởng giao cho ôm sổ cộng điểm về nhà . Trên tường, trước 1954, cao nhứt là hình” đức Quốc Trưởng Bảo Đại  (và sau đó là hình Thủ Tướng Ngô Đình Diệm), các bảng khẩu hiệu như “Tiên Học Lễ,Hậu Học Văn”,”Uống Nước Nhớ Nguồn”. . được trang trọng treo trên bốn bức tường của lớp.Mỗi mùa bãi trường, lễ phát thưởng luôn được tổ chức thật qui mô, luôn có sân khấu ,học trò và thầy cô chuẩn bị cả tháng, còn phải tập các vở kịch nữa. Buổi lễ phát thưởng trường Quận tôi lúc đó, thường luôn được ngài Quận Trưởng chủ tọa (thời đó, Ông Quận Trưởng lớn lắm, luôn đưọc trang trọng gọi cung kính là”ngài”), cùng sự tham dự các viên chức, các vi bô lão và phụ huynh học sinh.Trong lễ phát thưởng, ngài chủ toạ luôn ban những huấn từ ,trông thật oai phong. Ngày phát thưởng thật không khác gì ngày lễ hội,học trò được lảnh thưởng với những gói thật to, gồm cặp da, tư điển, sách vở. . .giữa những tràng pháo tay to vang.Chính hình thức long trọng nầy, đã khuyến khích  học trò  cố gắng. Hình ảnh và cũng là niềm mơ ước cháy bổng là ngài Quận Trưởng.(Ông ấy”lớn” quá, tôi mơ sẽ có ngày. . . và may mắn ,như một phép lạ,sau nầy cá nhân tôi cũng có dịp chủ toạ những buổi lễ như vậy,và cũng ban huấn từ ngon lành lắm”).  Tôi nhờ siêng học, năm nào cũng được những phần thưởng ,ông bà ba má vui mừng. Tôi cũng còn nhớ các bạn bè, có những bạn học kém đã quá buồn , khóc rấm rứt, nhưng rồi cũng qua đi. Xong lễ chúng tôi lại cùng nhau tay trong tay, líu lo trò truyện ,và rồi những cuốn lưu bút được trao nhau. Đời học sinh nhiều kỷ niệm nhứt phải là thời tiểu học, mà  ông nhạc sĩ Thanh Sơn  của quê tôi Sóc Trăng sáng tác những bài hát đã khiến hàng triệu học trò bùi nguì nhớ mùa hoa phượng, nhớ quyển lưu bút ngày xanh.

            Ôi,những quyển lưu bút ngày xanh của chúng tôi, tuổi xuân xanh của chúng tôi, cuả hàng triệu người đã bị ngọn lửa chiến tranh hận thù thiêu rụi sau đó. Tôi vẫn mãi nhớ những bằng danh dự, những quyển lưu bút, những cuốn tập học trò cùng bài vở mực tím mà tôi giữ gìn trân quí như báu vật trong 20 năm, đã bị ngọn lửa 1975 đốt cháy không tiếc thương. Đây không phải nghiã bóng,mà là sự thật.Những quyển lưu bút,những bằng danh dự tôi luôn giữ gìn cẩn thận như báu vật trong hơn 20 năm, vào ngày 1 tháng 5 “năm ấy”, phần gia đình mang ra đốt,đốt cả sách báo vì quá lo sợ tội “chứa chấp tài liệu phản động của Mỹ ngụy”. Phần khác, ngay sau ngày ấy, người ta đã “ập” vào nhà,lục lọi càng quét, truy lùng. . Ngọn lửa 1975 đồng thời đã tạo cơn lốc xoáy điên cuồng thổi tôi và hàng triệu đồng bào tung bay vào những khu rừng, trại cải tạo, khu kinh tế mới,đại dương đầy sóng dữ, hải tặc.

Thêm một chút”Nhớ.  .”. Sau khi , tạm rời quê,lên tỉnh học trung học, rồi lên chốn “đô thành”, đôi lần về thăm , cũng chưa đổi thay nhiều .Sau ngày “tháng tư năm ấy”,  khoản mười năm sau , tính ra đã trên 30 năm,về tìm lại mái trường xưa, giờ đây đã thay đổi hầu như hoàn toàn. Nghe nói , ngày nay câu ca dao”Tiên Học Lễ,Hậu Học Văn” đã không còn treo trên  tường nữa. . . Đúng thật rồi, và còn biết bao nhiêu “điều nghe nói”, đã là sự thật, sự thật mà bình thường không dám tin. Sau trên  ba chục năm , về lại quê xưa, khá nhiều đổi thay, nhiều nhà cửa được xây thêm,nhứt là khu gần Văn phòng “huyện”.Tôi nhớ rất rõ,ngôi trưòng không xa văn phòng lắm, mà sao hơi khó tìm, nhưng  cuối cùng đây rồi, ba mươi năm,là nửa đời người, trường tôi ngày xưa  với mái ngói đỏ như son môi cô thiếu nữ,nay đã xám xịt, đầy những rêu phong.Hơi khó tìm  vì ngày xưa ấy, trước trường là khoản sân rộng, nhiều cây còng khá to,nay đã không còn nữa.  Người ta đã đốn, lấy mặt bằng làm mặt tiền xây những căn nhà ngói của ai đó, ai đó thì ai cũng biết là ai rồi đó! Ai trồng khoai đất nầy???. Vậy nên chỉ còn con đường như hẻm nhỏ khoản vài mét, vào sâu hơn 20 mét . . là ngôi trường xưa. Có điều quá ư đối nghịch,những căn nhà”của ai đó” trông khang trang  sáng sủa, đố nghịch với ngôi trưòng xưa của tôi trông ọp ẹp  làm sao.Về “Thăm Lại Trưòng Xưa”, tôi đã thấy:

                                   Nằm khuất sau nhà ai

                                   Trường tôi vẫn còn đây

                                   Bấy nhiêu năm xa cách

                                   Ôi, quá nhiều đổi thay

                                                                       Tôi nhớ lại ngày xưa

                                                                       Mái truờng ngói màu đỏ

                                                                       Trên đường đi đến lớp

                                                                       Nhìn thấy rõ từ xa

                                   Nhớ hàng còng xanh tươi

                                   Che sân trường mát rượi

                                   Cho chúng tôi thỏa thích

                                   Nô đùa giờ ra chơi

                                                                       Nay hết rồi còn đâu

                                                                       Mái trưòng phủ màu rêu

                                                                       Và cong hoằng hẳn xuống

                                                                       Vì chịu đựng quá lâu

                                   Vách tưòng màu nhợt nhạt

                                   Chấp vá bao lổ hang

                                   Từng mảng vôi vụn vở

                                   Cào xé bởi thời gian

                                                                       Tôi bàng hoàng nhìn lên

                                                                       Côt cờ như ngả nghiêng

                                                                       Màu cờ vàng đã mất

                                                                       Theo vận nước truân chuyên

                                   Lòng miên man hồi tưởng

                                   Bè bạn học chung trường

                                   Nay, ai còn ai mất

                                   Ai  lưu lạc tha phương

                                                                       Ông hiệu trưởng ,cô thầy

                                                                       Như ẩn hiện đâu đây

                                                                       Ôi, thời gian tàn nhẫn

                                                                       Đôi mắt buồn, ai hay.

            Đôi mắt của tôi,và chắc hẳn cũng của quí vị   hom hem.Vậy cũng là điều hay, sẽ giúp mình nhìn về quá khứ mờ mờ ảo ảo. Chuyện kể ghi lại một quá khứ gần bảy mươi năm, chắc phải có nhiều thiếu sót và lầm lẫn,xin hãy vui vẻ thứ tha thông cảm.Hoài Việt chỉ mong,những dòng bút ký dung dị nầy, cùng đưa quí vị về một vùng ký ức xa xôi nào đó.Quí vị ơi,

                                               Quê nhà chưa thể về thăm

                                               Thôi ,ta hãy tạm đi tìm trong mơ.

                                               Ta mơ thấy lại lá cờ

                                               Mãi in đậm nét từng giờ trong tim.

            Thiệt lòng, không phải sính “làm thơ”,nhưng khi xúc cảm tràn dâng,tự nhiên “ ý thơ” lại dâng tràn.Cũng là cái nghiệp.

                                                                                              Hoài Việt/Trương An Ninh

            (Bài viết từ vài năm trước.Tác giả chủ yếu ghi lại những dòng ký ức,len vào là những gì nhớ về QVGKT. Đây chỉ là đôi nét căn bản,không phải là một sưu tập chuyên biệt. Và cũng vì vậy, đây chỉ là đôi nét căn bản và không khỏi mắc phải vài sai lạc.Rất mong được sự cảm thông  của quý vị)

                                              

 

 

 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual