HỌP MẶT HD CANADA, BỈ, PHÁP, MỸ NGÀY 08/08/2015

THƯƠNG NGƯỜI DƯNG-ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA



KỶ NIỆM 50 NĂM VÀO TRƯỜNG HOÀNG DIỆU ( 1966-2016).


CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH ANH LÂM HOÀNG TUẤN



  
NHÓM CHS HOÀNG DIỆU ĐH ÂU CHÂU, THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VÀ CẦU MONG HƯƠNG LINH ÔNG SỚM VỀ CÕI VĨNH HẰNG.







 

THẾ NÀO LÀ VỀ HƯU THOẢI MÁI…



Nhìn những con số thống kê làm chúng ta ngạc nhiên. Hiện nay nước Canada có 33 triệu dân. Đến năm 2036 sẽ có hơn 10 triệu dân Canada trên 65 tuổi tức gấp hai lần số học sinh trọn năm 2009. Và con số này dự kiến sẽ đạt 15 triệu 25 năm sau đó.

Nói cách khác thì tỷ lệ người cao niên đạt 8% dân số năm 1960, sau đó lên đến 14% năm 2009 và được dự báo sẽ đạt 24% năm 2036. Đến năm 2021 sẽ có nhiều người 65 tuổi hơn số trẻ em 14 tuổi trở xuống – hiện tượng đầu tiên trong lịch sử nhân khẩu học của Canada. Dựa trên những con số thống kê Canada thì số lượng người rời khỏi khối lao động sẽ tăng lên đáng kể và sẽ có tác động đến tất cả mọi người dân khác. Chưa kể là chúng ta không quá quan tâm về việc thay thế nhân viên nghỉ hưu của các doanh nghiệp và việc truyền đạt kiến thức kinh nghiệm của họ cho nhân viên trẻ hơn.

Theo một nghiên cứu của cô Dorothea Bye ở Montreal thì câu hỏi lớn được đặt ra là:”Làm thế nào giải quyết thỏa đáng cho hàng triệu dân boomers”. Cô mô tả việc về hưu như "giai đoạn đầu của cuộc sống mới, nó đến một cách đột ngột mà không có một cuốn sách hướng dẫn nào"?

Đối với hầu hết dân Canada, quyết định rời bỏ việc làm để lấy hưu là một thách thức lớn, theo cô Bye – Ph.D  là một nhà tư vấn về hưu trí đã dành 5 năm để nghiên cứu về vấn đề lão hóa ở người cao niên thuộc Đại học Concordia Montreal. Nghiên cứu của bà chủ yếu quan sát mô hình hoạt động, sức khỏe, lợi tức thu nhập, mối quan hệ với bạn bè, cộng đồng và gia đình. Nói một cách ngắn gọn: "Tôi thử tìm ra yếu tố nào làm cho người ta có một niềm say mê lớn hơn trong cuộc sống về già."

Tin tốt nhất được ghi nhận như sau. Trong giai đoạn về hưu người ta có thể hạnh phúc hơn cuộc sống mà cô đã từng trải. "Người có tính sáng tạo về giải quyết các vấn đề cho biết họ cảm thấy hạnh phúc hơn người ít có óc sáng tạo ".

Thời đại này sự hạnh phúc sẽ được cảm nhận một cách khác. Trong khi những người luôn có tính tranh đua khoe khoan có thể vẫn như vậy, sự thành công hiện nay là một thước đo không còn thích hợp nữa, cô nói. "Nhìn vào một nhóm người sống hạnh phúc chúng ta thấy họ luôn buông thả và không màng đến các giá trị vật chất như tranh đua khoe của, mua sắm,v.v… Chúng tôi sẽ tập trung vào những thứ có một giá trị sâu sắc hơn. "

Cô Bye cho biết thì việc hưu trí thời nay được thể hiện dưới nhiều hình thức. Theo thống kê thì những người vẫn còn giữ ý tưởng cỗ hủ về hưu trí thường mất đi một vài năm sau khi họ ngừng làm việc. Những người này thường an bài với số phận, dành thời gian còn lại nằm trên chiếc ghế nôi lúc lắc cả ngày, lãnh lương hưu trí của chính phủ và nếu may mắn hơn lãnh thêm lương hưu trí của công ty – lập trường lỗi thời này không còn chỗ đứng ở thời đại này nữa.

Ngày nay người cao niên (babyboomers) ở lứa tuổi 60 có thể phải lên kế hoạch 30 năm trước khi rời khỏi vỉnh viễn công việc hằng ngày trong sở và người ta thấy rằng những chiếc ghế nôi lúc lắc kia dần dần biến mất.

Chúng ta phải làm gì với tất cả các thời gian rãnh rỗi còn lại của cuộc đời này nhĩ? Một số người chọn cách ở lại lao động lâu hơn như bên Âu Châu. Theo thống kê Canada, từ năm 1997 đến 2010  tỷ lệ việc làm của đàn ông trên 55 tuổi tăng đến 39.4% từ 30.5% . Đối với phụ nữ, tỷ lệ này đã lên tới 28.6 % từ 15.8%.

Tuy nhiên chúng ta vẫn có vài lựa chọn khác. Chúng tôi thấy có vài người lấy hưu trí nhưng vẫn làm việc bán thời gian và nghỉ hưu phần thời gian còn lại. Khi họ có một công việc bán thời gian thì họ có thì giờ để làm việc riêng tư không như lúc đang đi làm toàn thời gian lúc nào cũng bận rộn với công việc. Hoặc có thể họ chưa có nhu cầu nghỉ hưu, họ muốn giảm ít giờ làm việc tại cùng cơ sở hay tìm một việc làm mới. Ngoài ra còn một ít người muốn tìm việc gì đó hoàn toàn mới cuối đời để thay đổi không khí.

Trên thực tế khuynh hướng của người Canada là sau vài năm hưu trí tìm cách mở doanh nghiệp riêng cho họ. Theo một cuộc khảo sát gần đây của TD Canada Trust cho thấy 54% thế hệ chúng ta (babyboomers) đã bắt đầu hoặc đang bắt đầu một doanh nghiệp nhỏ trước khi về hưu. Và 40% số người lao động trên 65 tuổi có doanh nghiệp riêng, có lẽ họ lấy cảm hứng bắt chước từ những huyền thoại thành công của vài nghệ nhân Mỹ nổi tiếng tên Grandma Moses, người đã bắt đầu tập vẽ ở tuổi 75; hay ông Harlan David Sanders, chủ sở hữu một trạm xăng bắt đầu mở Kentucky Fried Chicken ở tuổi 65; hay ông Ray Croc, một nhân viên bán máy milkshake, là người đã mua một nhà hàng và lập nên chuỗi McDonald khi ông lên 52 tuổi.

Mô hình hiện đại ngày nay là việc tái chế nguồn nhân lực (human recycle) thay vì nghỉ hưu theo cách truyền thống, được gập theo những khuôn mẫu. Trong tiếng Pháp, "nghỉ hưu" đồng nghĩa với "rút lui". Người hiện đại thời chúng ta không rút lui. Tôi nghĩ rằng khái niệm này sẽ biến mất trong thế hệ tiếp theo. Một mô tả thích hợp hơn cho nghỉ hưu là 'cuộc sống mới với công việc ở tuổi thứ ba.'

Ngay cả những người có đủ phương tiện tài chính nhưng họ vẫn tự chọn không nghỉ hưu cho mình, hoặc đang chọn việc làm với giờ làm việc giảm hoặc một việc làm bán thời gian. "Đôi khi họ có kế hoạch nghỉ dưỡng ở một nơi ấm cúng nào đó để trốn mùa đông (snowbirds), sau đó trở về sở thương lượng với chủ nhân mình." Cô thêm.

Trong khi một số người mở doanh nghiệp riêng khi đến tuổi nghỉ hưu thì một số người khác trở lại nhà trường vì họ muốn giữ cho bộ não họ luôn hoạt động. Họ cảm thấy rất thích thú khi trở lại lớp học ngồi cùng với các sinh viên trẻ hơn. Đây là trường hợp của cô Linda Cochrane, người đã làm việc nhiều thập niên cho Tổ Chức Hàng Không Dân Sự Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc ở Montreal (ICAO – International Civil Aviation Organization). Khi cô nghỉ hưu ở tuổi 60, theo qui định  ICAO vào thời điểm đó, cô quyết định trở thành một sinh viên toàn thời gian."Tôi không bao giờ nghĩ mình đang nghỉ hưu". Cô Cochrane bây giờ đã 72 nói.  "Ngay trong lúc tôi làm trưởng nhóm một đơn vị hỗ trợ kỹ thuật tại cơ sở ICAO, đêm đêm tôi vẫn ôm sách đến trường học bằng Master bán thời gian về khoa điện tóan."

Trong thời gian ấy cô Cochrane suy xét lại sở thích của mình về triết học - cô có bằng cử nhân về toán và triết học - và bắt đầu nghiên cứu toàn thời gian để hoàn thành bằng Master về triết học và khi đến 66 tuổi cô bắt đầu học bằng tiến sĩ khoa học về nhận thức (cognitive science). "Thật tuyệt vời, các sinh viên chấp nhận tôi và không bao giờ đối xử với tôi khác hơn người khác ", cô nói.

Bây giờ cô đang học đàn piano và ngôn ngữ ký hiệu (sign language) để cô có thể giao tiếp với một người thân ở Anh quốc đã bị điếc lúc bẩm sinh. Cô cũng được yêu cầu viết một cuốn sách về quá trình giảng dạy tại các trường đại học về triết lý trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence).

"Tôi thực sự không nghĩ hiện tại tôi đang hưu trí vì nó đồng nghĩa với sự dừng lại, thực sự về hưu không còn đúng với ý nghĩa của nó nữa ." Cochrane nói.

Những gì mà thế hệ thứ ba chúng ta muốn là thấu hiểu những gì cần phải làm để tiến về phía trước. Theo ông Leithman, một cố vấn về hưu trí nói "Rất nhiều người đến dự các buổi hội thảo tư vấn của tôi vì họ đang lo ngại và lo lắng. Họ muốn động não để biết họ muốn gì và sống với mục đích gì? Tôi sẽ làm gì với thời gian của tôi?  Về hưu sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ với người phối ngẫu của họ như thế nào? "Họ muốn có một số hướng dẫn cơ bản về những gì mong đợi trong tương lai cuối đời của họ."

Đa số những người ý thức được bản thân mình cho biết "chúng tôi muốn đóng góp một cái gì đó có ý nghĩa cho cuộc đời còn lại và trong thời gian này cái ý nghĩa đó không phải là vấn đề tiền bạc và thành công mà bằng giá trị con người. Họ cảm thấy rằng họ đã thực hiện được điều họ muốn trong cuộc đời và đây là lúc họ muốn đóng góp cho cộng đồng. "

Hãy nhớ rằng nghỉ hưu không phải là một giai đoạn lâu dài, cô Bye nói. "Nó giống như một cuộc hành trình vòng vo dài hơn một kỳ nghỉ hè vô tận; tôi đã thấy rất nhiều trường hợp xảy ra 30 năm qua trong xã hội và theo nhiều cá nhân. "Về hưu không thể được xác định bởi tuổi theo thời gian. Người dân chúng ta ngày nay gọi là về hưu như ở thập niên 60, 70, 80 hoặc thậm chí 90."

Nhưng có một phẩm chất quan trọng trong cuộc sống về hưu luôn là sự sáng tạo, cô Bye nói, trong đó những người bình thường giàu trí tưởng tượng hay dựa theo tiểu thuyết để áp dụng vào cuộc sống với những thách thức khác nhau. "Để có được óc sáng tạo thích nghi theo cách này là phải có ý chí mãnh liệt, luôn làm cho mình bận rộn và sống một cách hạnh phúc hơn."[2].

Các cuộc tranh luận về việc người dân Canada đang chuẩn bị tài chính như thế nào cho việc nghỉ hưu vẫn tiếp tục gây giằng co. Khi phán xét bất kỳ vấn đề gì cũng phải trả lời hai câu hỏi cơ bản – thứ nhất người cao niên có tiết kiệm đủ tài chính cho việc hưu trí và hai là liệu họ có lựa chọn cách đầu tư đúng để sinh lời và tích lũy không.

Ở Canada điển hình những người về hưu lúc 70 tuổi đều có nguồn thu nhập đa dạng từ chính phủ như Quebec Old Age Pension hay Old Age Security của  Canada và Tiền Phụ Trội Income Supplement cho người có lợi tức thấp. Đa số người về hưu ngày nay đều đăng ký quỹ tài chính tiết kiệm cá nhân (RRSP – Registered Retirement Saving Plan tương đương với 411 bên Hoa Kỳ) hầu mong có thêm lợi tức tối thiểu để sống thoải mái lúc về hưu. Chưa nói đến thế hệ trẻ thì đây là một vấn đề hoàn toàn khác. Như thế có thể thế hệ trẻ sẽ không tiết kiệm dự trữ đủ tiền để cho việc hưu trí về sau này.

"Nhìn bề ngoài thì việc tiết kiệm trông xuống dốc thê thảm, với tỷ lệ tiết kiệm giảm từ 15 đến 20% từ vài thập niên trước để rơi tuột xuống 4% như hiện nay", theo một báo cáo của CIBC Economics. Và điều này có thể gây khó khăn hơn cho nhiều người muốn đạt mục tiêu về hưu, thường để được sống thoải mái lúc về hưu người ta cần có tương đương 70% lợi tức thu nhập lao động bình thường của họ trước khi nghỉ hưu.

Một biện hộ khác của cuộc tranh luận là Malcolm Hamilton, một thành viên cao cấp của Viện Nghiên Cứu CD Howe và cựu đối tác của viện nghiên cứu Mercer. Trong một bài báo được công bố gần đây, ông cho biết tỷ lệ tiết kiệm của mỗi hộ gia đình theo thống kê Canada là một chỉ số chưa đủ tin tưởng vì nó không phản ánh đầy đủ các khoản đóng góp thêm và việc rút tiền để trong quỹ RRSPs và quỹ lương hưu. "Từ năm 1990 đến 2012, khi tỷ lệ tiết kiệm mỗi gia đình bắt đầu bị giảm thì ngược lại các khoản tiền đóng góp cho kế hoạch tiết kiệm quỹ hưu trí (RRSP) dựa trên lợi nhuận bắt đầu tăng trưởng mạnh đến vài phần trăm”.

"Việc đóng góp quỹ về hưu tăng lên 14% thay vì ở 4 hoặc 5% thu nhập như ngày xưa, thực ra tỷ lệ không giảm nhưng đang tăng lên ".

Cho dù bạn đứng về bên nào trong cuộc tranh luận nhưng có một điều rõ ràng: Nếu bạn muốn có hưu trí thoải mái, bạn phải đối mặt với những thách thức đầu tư đáng kể trong môi trường ngày nay. Tiết kiệm đủ là một chuyện, kiếm chỗ đầu tư sinh lợi nhiều và hiệu quả là một chuyện khác.

Chỉ có một phần ba người dân Canada được trợ cấp bởi các quỹ hưu trí tư nhân và một số ít được hưởng theo quỹ lợi tức xác định (defined benefit). Bên Canada quỹ Hưu Trí hãng Tư nhân hay chính phủ có 2 kế hoạch: quỹ lợi tức xác định (defined benefit) và quỹ đóng góp xác định (defined contribution). Quỹ lợi tức xác định (defined benefit) có nghĩa là Hãng sẽ trả cho nhân viên về hưu một tỷ lệ lương hưu cố định tính theo số năm làm việc với và tuổi thọ lúc về hưu. Và mức lương hưu trí theo thời gian có thể tăng theo lạm phát. Theo kế hoạnh này nhân viên phải có số năm làm việc cộng với tuổi về hưu phải bằng ít nhất là 85. Thí dụ một nhân viên chọn quỹ đóng góp xác định (defined contribution) và khi đạt 60 tuổi và có 25 năm kinh nghiệm với cùng hãng sẽ được lấy hưu trí và hưởng lương hưu. Trong khi đó quỹ đóng góp xác định (defined contribution) có nghĩa nhân viên dùng một khoản lương cố định lúc tại vị đóng vào quỹ và hãng sẽ đóng góp vào quỹ một tỷ lệ tương đương hay khác hơn và nhân viên có nhiều sự lựa chọn về cách quản lý quỹ để sinh lợi.

Quỹ lợi tức xác định (defined benefit) có nghĩa là Hãng sẽ trả cho nhân viên về hưu một tỷ lệ lương hưu cố định tính theo số năm làm việc với hãng và tuổi thọ lúc về hưu. Và mức lương hưu trí theo thời gian có thể tăng theo lạm phát. Theo kế hoạnh này nhân viên phải có số năm làm việc cộng với tuổi về hưu phải bằng ít nhất là 85. Thí dụ một nhân viên chọn quỹ lợi tức xác định (defined benefit) và khi đạt 60 tuổi và có 25 năm kinh nghiệm với cùng hãng sẽ được lấy hưu trí và hưởng lương hưu.

Nhiều hãng khuyến khích công nhân chọn quỹ đóng góp xác định (defined contribution) cho nhân viên mới, hoặc khuyến khích nhân viên hiện tại chuyển vào quỹ này. Nhưng với quỹ đóng góp xác định (defined contribution) thì các quyết định đầu tư thuộc vào cá nhân thay vì được quản lý trong danh mục đầu tư tổng họp của công ty. Vì thế nhân viên cần có cố vấn tài chính để tự quản lý danh mục đầu tư (investment portfolio) của mình và chọn cách đầu tư nào hiệu quả nhất và ít rủi ro. Nhưng quyết định đầu tư cuối cùng vẫn là trách nhiệm của nhân viên.

Ngược lại quỹ đóng góp xác định (defined contribution) thiếu sự đảm bảo sinh lợi không giống như quỹ lợi tức xác định (defined benefit) trong đó sự rủi ro được bảo đảm bởi chủ nhân công ty. Chủ nhân có trách nhiệm trã mức lợi tức cấp dưỡng hưu cho nhân viên như dự định trước (fixed pension).

Bất kỳ bạn suy nghĩ hay có lựa chọn về các quỹ như thế nào nhưng cuối cùng thì mỗi công nhân phải chịu trách nhiệm về tương lai tài chính của mình. Đây chỉ là một vài trong số những thách thức của việc chuẩn bị một kế hoạch đầu tư cho việc nghỉ hưu.

Trong khi các kế hoạch quỹ được cải thiện thì sự hiểu biết của quần chúng về tầm quan trọng của tiết kiệm và đầu tư còn một chặng đường dài để đi. "Trên thực tế là hầu hết các khách hàng, nếu để cho bản thân họ tự lo lấy sẽ không khéo sẽ không đủ sinh lợi", theo ông Brennan Richer, một kế hoạch tài chính với Tập đoàn tài chính BMO (Bank of Montreal) nói.

"Họ phải hiểu rằng với một kế hoạch tiết kiệm nghỉ hưu được cung cấp thông qua hãng làm việc của họ, rằng họ phải thông hiểu tường tận và biết cách làm sinh lợi đầu tư tối đa. Chúng tôi thường theo dõi các khoản đầu tư của các khách hàng, xem cách họ đang làm hay có kế hoạch dự án chính chắn không.”

"Một trong những vấn đề tôi thấy với khách hàng của tôi là khi kế hoạch của họ được thiết lập, nhiều người chỉ nghĩ đến việc lựa chọn hãng đầu tư một cách vô tư. Họ không thực sự đặt câu hỏi và không thực sự có bất cứ ý kiến gì về cách họ đang đầu tư vào."

Đa số mọi người rất tích cực lúc đầu dự án đầu tư, ông nói. "Chín mươi phần trăm người đầu tư sau một thời gian sẽ nói “Ồ, tôi là một nhà đầu tư bảo thủ." Sau đó tôi nhìn vào bản báo cáo đầu tư của họ mới thấy họ để 75% vốn đầu tư trong chứng khoán.". Trong trường hợp này tỷ lệ về chứng khoán hơi cao và nhiều rủi ro hơn so với một danh mục đầu tư cân bằng. "Đây không nhất thiết là một chiến lược xấu nhưng người đầu tư phải yên thân thoải mái với những thăng trầm của chứng khoán."

Nhiều người cần được giúp đỡ cố vấn để lấy quyết định đầu tư chính chắn theo cô Lucie Côté, một nhân viên kế hoạch tài chính cao cấp của nhà đầu tư Investor Group. "Chúng tôi có nhiều khách hàng bắt đầu để tiết kiệm ở tuổi rất trẻ và thành phần này có nhiều hiểu biết hơn thế hệ 20 năm trước đây. Nhưng với toàn bộ các sản phẩm tài chính trên mạng, chúng ta thực sự cần sự giúp đỡ để hiểu tất cả. "

Cái tin tốt ngày nay là các nhà cố vấn về kế hoạch tài chính đang làm việc với các dụng cụ thông tin tốt hơn để tính toán theo những đòi hỏi đặc biệt của khách hàng. Cho dù bạn muốn tính toán đóng góp như thế nào để có 70% lợi tức thu nhập thay thế lúc về hưu hay một tỷ lệ khác.

Bây giờ chúng ta đang trải qua thời điểm với tiền lãi suất rất thấp gây phức tạp cho các quyết định đầu tư vì ta không còn có thể phụ thuộc vào các khoản đầu tư thu nhập cố định (fixed interest) để mong được lợi nhuận đáng kể về sau. Việc tìm kiếm nguồn đầu tư với năng suất cao sẽ đẩy ta đến một số đầu tư rủi ro hơn trong danh mục đầu tư khi nhún tay vào thị trường chứng khoán so với mô hình đầu tư truyền thống.

"Chúng ta đang thấy mức lợi nhuận quá thấp không mang lại lãi suất cao, vì vậy làm thế nào để mọi người đạt được mục tiêu của mình?" Côté nhấn mạnh. Chứng chỉ dài hạn tiền gửi (Guaranteed Invetsment Certificate) có thể mang lại 2.75%  nhưng hầu như không khao nỗi lạm phát hơn 2% mỗi năm. "Chúng ta đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đúng loại sản phẩm đầu tư."

Trong số các sản phẩm tài chính đầu tư do BMO cung cấp là GIC của thị trường Canada với thời hạn 3 năm để bảo vệ 100 phần trăm vốn và mang lại thu nhập tối đa 35 phần trăm tùy thuộc vào diễn biến thị trường. Trong khi đó Top Performing Portfolio GIC 5 năm dựa trên các chỉ số chứng khoán Mỹ với vốn bảo đãm và có thể mang lại 30% lợi nhuận tối đa, nếu thị trường đi lên đáng kể. "Chúng tôi không muốn đuổi theo năng suất (yield)." ông Richer nói.

Ngay việc lãi suất cao hơn gây nguy hiểm cho người giữ trái phiếu (bond), vì giá trái phiếu di chuyển ngược chiều với hướng của lãi suất và tỷ lệ lãi suất tăng đột ngột có thể gây bond mất vốn. Cái chính ngay bây giờ là giữ danh mục đầu tư trái phiếu (bond portfolio) với thời hạn ngắn hơn để giảm các tác động về vốn, Richer nói.

Dự đoán về tài chính cho nhu cầu hưu trí của chúng ta có thể phức tạp và khó khăn và tùy thuộc vào giả thuyết tuổi thọ càng ngày càng tăng lên. Khi người ta sống lâu hơn thì có nhiều nguy cơ chi xài nhiều hơn số tiết kiệm dành dụm của mình. Theo thống kê thì 50% dân Canada sống lâu hơn tuổi thọ trung bình. Cũng theo viện nghiên cứu IQPF (Institute of Quebec Pension Funds Planning) cho khuyến cáo rằng việc lên kế hoạch về hưu không nên dựa trên thống kê tuổi thọ để tránh lâm vào tình trạng phá sản vì sống lâu hơn dự đóan.

Đối với người cao niên Nam thì dự tính về hưu ở tuổi 65 nên tính toán nguồn tài chính đủ vốn và lời để có thể chi tiêu đến 91 tuổi; phụ nữ sẽ là 96 tuổi.

Điều này mang ý nghĩa quan trọng đối với người tiết kiệm ngay bây giờ phải kiểm tra lại danh mục đầu tư (investment portfolio) xem có khả năng cung cấp đủ chi tiêu cho 25 hay 30 năm tới hay không.

Nhiều khi chúng ta nên áp dụng chiến lược đầu tư bảo thủ một chút và chi tiêu vừa phải thì có thể tiết kiệm đủ cho việc chi tiêu lúc về già.

Nguyễn Hồng Phúc


Tham Khảo:
       1.    http://montrealgazette.com/news/local-news/affording-retirement-the-obstacles-are-many

2.    http://montrealgazette.com/news/local-news/creativity-is-key-for-a-happy-retirement-montreal-expert-says

CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH NGUYỄN THÀNH SƠN



  
NHÓM CHS HOÀNG DIỆU ĐH ÂU CHÂU, THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VÀ CẦU MONG HƯƠNG LINH ÔNG SỚM VỀ CÕI VĨNH HẰNG.







 

CÓ NÊN DÙNG ĐƯỜNG THAY THẾ STEVIA


Stevia là một loại đường tự nhiên trích ra từ một loại rau Stevia rebaudiana Bertoni để thay thế loại đường thông thường cho những người quan tâm đến sức khỏe.

Những thành phần hóa của cây rau Stevia là steviol glycoside (đúng hơn là stevioside và rebaudioside) có độ ngọt gấp 150 đến 300 lần đường thông thường, độ pH ổn định và không lên men. Các chất stevioside có tác dụng vô hại cho lượng đường trong máu thành ra rất tốt cho người muốn đề phòng bệnh tiểu đường và béo phì. Loại đường thay thế Stevia có tác dụng chậm và lâu hơn đường bình thường, đôi khi có vị hơi đắng nhẹ.

Loại rau cỏ ngọt này đã được sử dụng hơn 1500 năm trước của dân tộc Guarani Nam Mỹ, người ta gọi nó là ka'a he'ê ("thảo mộc ngọt ngào").  Các lá rau ngọt này đã được sử dụng theo truyền thống hàng trăm năm bên Brazil và Paraguay như đường ngọt để pha trà địa phương và các loại thuốc.  Cái tên đường được đặt theo nhà thực vật học và bác sĩ Tây Ban Nha Petrus  Jacobus Stevus (Pedro Jaime Esteve 1500-1556) là một giáo sư thực vật học tại Đại học Valencia.

Năm 1899, nhà thực vật học Thụy Sĩ Moisés Santiago Bertoni, trong khi tiến hành một nghiên cứu ở miền đông Paraguay, lần đầu tiên mô tả loại cây và hương vị ngọt ngào của stevia một cách rất chi tiết. Có rất ít nghiên cứu đã được tiến hành về chủ đề này cho đến năm 1931 hai nhà hóa học người Pháp đã phân lập được glycosides và cung cấp hương vị ngọt ngào cho stevia.



Các cơ cấu chính xác của aglycone (steviol) và các glycoside được báo cáo năm 1955.

Những năm đầu của thập niên 70, nhiều chất ngọt nhân tạo hóa học như cyclamate và saccharin đã dần dần được ít sử dụng hoặc bị loại bỏ khỏi công thức của Coca-Cola. Từ đó việc sử dụng lá stevia như một loại đường thay thế bắt đầu tại Nhật Bản, với chiết xuất từ ​​dung dịch của lá cây cho năng suất steviosides tinh khiết phát triển như là chất làm ngọt. Các chất ngọt stevia đầu tiên dùng trong thương mại tại Nhật Bản được sản xuất bởi các công ty Nhật tên Morita Kagaku Kogyo Co., Ltd vào năm 1971.  Người Nhật đã tiêu dùng stevia trong thực phẩm và nước giải khát, (bao gồm cả Coca Cola). Nhật Bản hiện đang tiêu thụ stevia nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác, chiếm đến 40% thị trường chất ngọt. Nhưng .. Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng người Nhật cũng đang sử dụng stevia như một điều trị cho bệnh tiểu đường loại 2? Kiểm tra này thực hư ra sao!.

Vào giữa thập niên 80, Stevia trở thành phổ biến bên Hoa Kỳ như thực phẩm thiên nhiên và các công nghiệp thực phẩm sức khỏe, như là một loại đường tự nhiên không calo dùng cho các loại trà và thực phẩm giảm cân. Các nhà sản xuất loại đường ngọt tổng hợp NutraSweet yêu cầu FDA (Foods and Drug Administration) buộc các hãng chế đường thử nghiệm các loại thảo dược biến chế thành đường. Năm 2007 Công ty Coca-Cola công bố kế hoạch để xin sự chấp thuận cho đường stevia có nguồn gốc Rebiana, để sử dụng như một loại đường thay thế tại Hoa Kỳ năm 2009, cũng như các kế hoạch tiếp thị Rebiana trên 12 quốc gia cho phép sử dụng stevia như một phụ gia thực phẩm. Trong tháng 5 năm 2008, Coca Cola và Cargill công bố sự xuất hiện sẵn có Truvia, một thương hiệu tiêu dùng chất ngọt stevia có chứa erythritol và Rebiana, mà FDA chấp nhận như một phụ gia thực phẩm trong tháng mười hai năm 2008. Coca-Cola tuyên bố ý định sản xuất các thức uống ngọt với stevia. Từ năm 2013 trở đi, Coca-Cola Life, chứa stevia như chất đường đã được đưa ra trong mô hình quốc gia trên thế giới.

Ngay sau đó, PepsiCo hợp tác với hãng Malaysia tên Pure Circle công bố thương hiệu PureVia, sản xuất chất ngọt stevia tương tự như trên nhưng tạm phát hành thức uống ngọt với rebaudioside A cho đến khi nhận được sự chấp nhận của FDA. Kể từ khi FDA cho phép Truvia và PureVia, cả Coca Cola và PepsiCo bắt đầu đưa vào thị trường các sản phẩm chứa chất ngọt mới của họ..

Đến năm 2006, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới của các sản phẩm Stevioside.

Chiết xuất Stevia và các dẫn xuất được nhiều công ty công nghiệp sản xuất hàng loạt và bán trên thị trường dưới nhiều tên thương mại. Một trong số đó là:

·       Rebiana: thương hiệu chất ngọt có chứa chủ yếu rebaudioside A.
·       Truvia: thương hiệu chất đường cho thị trường lập ra bởi sự hợp tác giữa Rebiana Cargill và Công ty Coca-Cola.
·       PureVia: thương hiệu đường của PepsiCo với rebaudioside, một chất ngọt cùng sự họp tác với Công ty Sweetener Whole Earth.
·       Enliten: thương hiệu của Corn từ sản phẩm rebaudioside, chất ngọt thay thế đường.
·       Erylite Stevia: tên thương mại cho chất ngọt Jungbunzlauer với rebaudioside A



Glycosides là những phân tử có chứa glucose và các chất không đường khác gọi là aglycones (phân tử có các loại đường khác là polysaccharides). Vị giác của lưỡi phản ứng với glucose trong glycosides: những chất có nhiều glucose (rebaudioside) lưỡi sẽ cảm thấy ngọt hơn so với những chất ít glucose hơn (Stevioside). Một số thụ thể  đắng của lưỡi sẽ phản ứng với các aglycones..

Trong đường tiêu hóa, rebaudiosides sẽ được chuyển hóa thành Stevioside. Sau đó Stevioside được chia thành glucose và steviol. Các glucose thải ra trong quá trình này được sử dụng bởi các vi khuẩn trong ruột kết và không được hấp thu vào máu. Steviol không thể tiêu hóa hoàn toàn sẽ được thải ra ngoài.

Năm 1991, sau khi nhận được đơn khiếu nại của vài công nghiệp vô danh, Quản Lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phán xét chất đường stevia như một "phụ gia thực phẩm không an toàn" và hạn chế nhập khẩu. Lý do của FDA là "thông tin về độc tố của stevia không đủ để chứng minh sự an toàn của nó. "

Kể từ khi ra lệnh cấm nhập khẩu năm 1991, các hãng tiếp thị và người tiêu dùng  stevia nhận định rằng FDA đã hành động để đáp ứng với áp lực của công nghiệp.  Nghị sĩ Jon Kyl của bang Arizona gọi đây là hành động của FDA chống lại stevia như "một hạn chế thương mại để gây hưởng lợi cho các công nghiệp chế đường nhân tạo".  Để bảo vệ người khiếu nại, FDA đã xóa tên trong đơn khiếu nại ban đầu về phản ứng ban Quản Trị để yêu cầu nộp theo Đạo luật Tự do Thông tin. Tuy nhiên Stevia vẫn bị cấm cho đến khi Đạo luật 1994 của bộ Y tế và Giáo dục về thực phẩm buộc FDA xem xét lại lập trường của họ để cho phép stevia được sử dụng như một bổ sung chế độ ăn uống, mặc dù không phải là một phụ gia thực phẩm - vị trí mà những người ủng hộ stevia xem ra mâu thuẫn vì thương hiệu stevia sẽ đồng nghĩa với sự an toàn và không an toàn, tùy thuộc vào cách nó được bán ra.

Nghiên cứu đầu tiên năm 1999 khiến Ủy Ban châu Âu cấm sử dụng stevia trong thực phẩm ở Liên minh châu Âu và ngừng cấp phát bằng nghiên cứu. Năm 2006, dữ liệu nghiên cứu về việc đánh giá sự an toàn được phát hành bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy stevia không có tác dụng phụ. Từ năm 2008 Stevioside được Liên bang Nga đã cho phép như một phụ gia thực phẩm "ở liều lượng tối thiểu cần thiết".

Tháng mười hai năm 2008, FDA bắt đầu bật đèn xanh chấp nhận "không phản đối" loại đường stevia được kiểm nhận GRAS (Generally Recognized As Safe) cho thương hiệu Truvia (thương hiệu đường dưới sự hợp tác của Công ty Cargill và Coca-Cola Company) và PureVia (hợp tác giữa PepsiCo và Công ty Whole Earth Sweetener, một công ty con của hãng Merisant). Cả hai thương hiệu sử dụng rebaudioside  A chiết xuất từ ​​cây Stevia. Tuy nhiên, FDA cảnh báo rằng các sản phẩm này không phải là Stevia, nhưng là một sản phẩm tinh khiết. Năm 2012, FDA gửi một ghi chú trên trang web của họ về cây Stevia thô. "FDA báo cáo không được phép sử dụng toàn bộ lá Stevia hay Stevia thô chiết xuất vì các chất này đã không được chấp nhận cho việc sử dụng stevia như một phụ gia thực phẩm. FDA không phán xét việc sử dụng chúng trong thực phẩm được kiểm nhận GRAS (Generally Recognized As Safe) trong các tài liệu báo cáo làm tăng mối lo ngại cho giới tiêu thụ về việc sử dụng các chất này. Trong số những mối quan tâm là việc kiểm soát lượng đường trong máu và các hiệu ứng trên việc sinh sản, tim mạch, thận và hệ thống tiểu tiện.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng Stevioside có khả năng làm tăng độ nhạy cảm insulin, làm giảm đường huyết sau bữa ăn và làm chậm lại sự phát triển kháng insulin ở chuột vào một lượng đường fructose cao. "Đây kết quả rất ấn tượng" nhưng bạn sẽ nói, "kết quả sẽ ra sao nếu áp dụng cho con người?"[6]

Một nghiên cứu về ảnh hưởng của stevia, aspartame và sucralose trong lượng thức ăn, về cảm giác no và mức độ glucose và insulin sau khi ăn tìm thấy kết quả tương tự và cho thấy so với sucralose hoặc aspartame thì người tiêu thụ dùng stevia có nồng độ đường trong máu thấp hơn sau bữa ăn và lượng insulin sau bữa ăn thấp hơn.

Phần tốt nhất của các nghiên cứu là các nhóm stevia làm giảm sự thèm ngọt đường hơn một số chất ngọt thay thế khác gây ra và lượng đường trong máu của người thử nghiệm ổn định hơn.

Một nghiên cứu khác cho thấy một số tác dụng có lợi của stevia về bệnh tiểu đường và rối loạn thận do tiểu đường gây ra và kết quả của họ kết luận "hỗ trợ tính hợp lệ của Stevia rebaudiana Bertoni cho việc quản lý bệnh tiểu đường cũng như các rối loạn thận do tiểu đường gây ra”.

Hiện nay loại đường stevia này ít được người tiêu thụ biết đến vì thế giá còn hơi đắt. Các bạn biết rằng theo thống kê hiện nay có 346 triệu người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới. Đáng lo ngại nhĩ. Như vậy loại đường tự nhiên thay thế Stevia sẽ rất hứa hẹn.

Theo một nghiên cứu của Hoa Kỳ [4] được tài trợ bởi hãng Cargill về sự an toàn và giá trị dinh dưỡng của rebiana như sau, cấu trúc chất rebiana bị phân tách ra như stevioside:

·       Nghiên cứu về tim mạch (2000 & 2003): dùng 1,000 mg mỗi ngày rebiana, tương đương với 8 ly nước ngọt 8oz  chứa rebiana trong vòng 4 tuần thì người thử nghiệm vẫn duy trì nhịp tim mạch rất bình thường.
·       Lượng đường trong máu (2004): dùng 1,000 mg mỗi ngày rebiana, tương đương với 8 ly nước ngọt 8oz  với chất ngọt rebiana trong vòng 16 tuần thì người mắc bệnh tiểu đường týp 2 hoàn toàn không bị ảnh hưởng vấn đề kiểm soát lượng đường trong máu.  

Chú ý: Cũng như bất cứ loại thảo dược hay thuốc men nào, chúng ta nên hỏi ý kiến bác sĩ hay chuyên gia khi sử dụng bất kỳ liệu pháp chữa trị nào tại nhà. Việc cẩn thận để những sản phẩm tự nhiên này không gây ra phản ứng phụ hay bất lợi với một liệu pháp hay thứ thuốc khác mà bạn hiện đang sử dụng có thể ngăn chặn một loạt các vấn đề tiềm năng.

Tuy nhiên càng về già nhiều người trong chúng ta, nhất là dân Á đông hay mắc phải bệnh tiểu đường, béo phì hay tụy tạng/lá lách giảm khả năng tiết insulin thì loại đường tự nhiên thay thế Stevia này cũng đáng cho chúng ta quan tâm đến lắm…

Nguyễn Hồng Phúc

Sưu tầm & Nghiên cứu
Tham khảo:
1.      http://ec.europa.eu/food/fs/sc/scf/out34_en.pdf
2.      http://www.legco.gov.hk/yr01-02/english/sec/library/0102fs04e.pdf
3.      http://www.ianrpubs.unl.edu/epublic/pages/publicationD.jsp?publicationId=609
4.      http://www.foodnavigator-usa.com/Regulation/Stevia-sweetener-gets-US-FDA-go-ahead
5.      http://www.flex-news-food.com/console/PageViewer.aspx?page=16495
6.      http://regevelya.com/stevia-sweetener/


CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH CHỊ PHƯƠNG THỊ MAI



  
NHÓM CHS HOÀNG DIỆU ĐH ÂU CHÂU, THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VÀ CẦU MONG HƯƠNG LINH BÀ SÔN VỀ CÕI VĨNH HẰNG.







 

CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH CHỊ NGUYỆT ÁNH. HOÀNG VĨNH



  
NHÓM CHS HOÀNG DIỆU ĐH ÂU CHÂU, THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VÀ CẦU MONG HƯƠNG LINH BÀ SỚM VỀ CÕI VĨNH HẰNG.







 

CHIA BUỒN CÙNG GIA ĐÌNH CHỊ THỦY NHUNG



  
NHÓM CHS HOÀNG DIỆU ĐH ÂU CHÂU, THÀNH KÍNH PHÂN ƯU VÀ CẦU MONG HƯƠNG LINH ÔNG SỚM VỀ CÕI VĨNH HẰNG.







 

XE ĐIỆN CHẠY BẰNG PIN NHIÊN LIỆU HYDROGEN (FCV) P 3




Tham khảo:
2.     http://www.edmunds.com/toyota/mirai/2016/review/#/overview-pod-anchor
4.      Phụ lục:
Chế biến hydrogen

Trên Trái Đất, hydrogen phần lớn ở dạng kết hợp với oxygen trong nước, hay với carbon và các nguyên tố khác trong vô số các hợp chất hữu cơ tạo nên cơ thể mọi loài động thực vật. Khác với các nguồn năng lượng cơ bản (ví dụ như dầu mỏ có thể bơm trực tiếp từ lòng đất lên rồi sử dụng), hydrogen là nguồn năng lượng thứ cấp, tức là chúng không thể được khai thác trực tiếp mà phải được tạo ra từ một nguồn sơ cấp ban đầu. Điều này là một điểm bất lợi, nhưng đồng thời lại là điểm mạnh của hydrogen do người ta có thể sản xuất khí hydrogen từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt từ các nguồn năng lượng tái sinh.

Có ba phương pháp cơ bản tạo ra hydro:
+ Phương pháp chuyển hóa hydrocarbon (nhiên liệu hóa thạch, sinh khối) bằng nhiệt (Reforming)
+ Phương pháp điện phân nước (Electrolysis)
+ Phương pháp sinh học (Biological method)
Hóa nhiệt nhiên liệu hydrocarbon
a) Hóa nhiệt khí thiên nhiên với hơi nước (Natural gas steam reforming)
Quá trình này gồm hai bước chính.

Trước hết, khí thiên nhiên (với thành phần chủ yếu là methane) được tách carbon và chuyển hóa thành hydrogennhờ hơi nước dạng siêu nhiệt dưới áp suất cao, xúc tác thích hợp ở nhiệt độ khoảng 900°C.

CH4 + H2O => CO + 3 H2 (15.1)
Carbon mono-oxide sinh ra lại tiếp tục được phản ứng với hơi nước và xúc tác chuyển hóa thành khí carbonic và tạo ra thêm khí hydrogen.
CO + H2O => CO2 + H2 (15.2)
Đây là phương pháp công nghiệp phổ biến hiện nay để sản xuất hydrogen. Tuy nhiên phương pháp này không được áp dụng để tạo một nguồn năng lượng mà chỉ để cung cấp nguyên liệu cho các ngành hóa chất, phân bón, tinh lọc dầu mỏ v.v.
b) Khí hóa hydrocarbon nặng (Gasification heavy hydrocarbon).

Thuật ngữ hydrocarbon nặng là để nói đến dầu mỏ và than đá. Than đá trước khi khí hóa phải được nghiền thành dạng bột rồi hòa trộn với nước. Thông thường, nhiên liệu được hóa nhiệt ở khoảng 14000C với oxygen hay không khí (oxygen hóa không hoàn toàn), tạo ra hỗn hợp gồm hydrogen, carbon mono oxide (CO) và vài sản phẩm phụ. CO sinh ra lại tiếp tục được phản ứng với hơi nước và xúc tác chuyển hóa thành khí carbonic và tạo ra thêm khí hydrogen, tương tự như bước thứ hai của quá trình hóa nhiệt khí thiên nhiên.

Rõ ràng đây không phải là phương pháp tối ưu. Bất lợi lớn nhất của nó là sử dụng nhiên liệu hóa thạch làm nguyên liệu và đồng thời cũng làm nhiên liệu cung cấp nhiệt lượng cho quá trình. Nhiên liệu hóa thạch là nguồn tài nguyên hữu hạn, thêm vào đó, việc đốt chúng tạo ra khí carbonic gây hiệu ứng nhà kính. Do đó phương pháp này xét về lâu dài không bền vững.

Tuy vậy, phương pháp sản xuất khí hydrogen từ nhiên liệu hóa thạch đã và sẽ còn chiếm ưu thế trong tương lai gần. Lý do chính yếu là do trữ lượng nhiên liệu hóa thách còn tương đối dồi dào, nhất là đối với khí thiên nhiên. Hơn nữa, những công nghệ này (phương pháp sản xuất hydrogen công nghiệp từ khí thiên nhiên nói riêng và nhiên liệu hóa thạch nói chung) đã khá quen thuộc trong công nghiệp hóa chất, trong khi cơ sở hạ tầng cho việc phát triển sản xuất hydrogen từ các nguồn khác còn thiếu thốn. Vì vậy, một khi nhiên liệu hóa thạch vẫn còn rẻ thì phương pháp này vẫn có chi phí thấp nhất. Thêm vào đó, để hạn chế mặt tiêu cực này của nhiên liệu hóa thạch, ta có thể dùng công nghệ tách khí carbonic rồi thu hồi và chôn lấp chúng.

c) Quy trình hiện đại tạo ra hydrogen từ khí thiên nhiên mà không thải ra CO2
Từ những năm 1980, Kværner – một tập đoàn dầu khí của Na Uy đã phát triển công nghệ mang tên “Kværner Carbon Black and Hydrogen Process” (KCB&H). Nhà máy đầu tiên dựa trên quy trình Kværner hiện đại này đặt ở Canada và bắt đầu sản xuất vào tháng 6 năm 1999. Quy trình cung plasma – Kværner ở nhiệt độ cao (16000C) tách hydrogen và than hoạt tính từ hợp chất hydrocarbon như dầu mỏ hay khí thiên nhiên mà không thải ra CO2.

Than đen tinh khiết này được dùng trong sản xuất vỏ xe hơi và dùng như chất khử trong công nghiệp luyện kim. Nhờ một số tính chất đặc biệt mà chúng còn có thể dùng để lưu trữ hydrogen (ống carbonnano).

d) Khí hóa sinh khối và nhiệt phân (biomass gasification and pyrolysis)

Sinh khối có thể được sử dụng để sản xuất hydrogen. Đầu tiên, sinh khối được chuyển thành dạng khí qua quá trình khí hóa ở nhiệt độ cao có tạo ra hơi nước. Hơi nước chứa hydrogen được ngưng tụ trong các dầu nhiệt phân và sau đó có thể được hóa nhiệt để sinh ra hydrogen. Quá trình này thường tạo ra sản lượng hydrogen khoảng từ 12%-17% trọng lượng hydrogen của sinh khối. Nguyên liệu cho phương pháp này có thể gồm các loại mảnh gỗ bào vụn, sinh khối thực vật, rác thải nông nghiệp và đô thị v.v. Do các chất thải sinh học được sử dụng làm nguyên liệu như vậy, phương pháp sản xuất hydrogen này hoàn toàn tái tạo được (renewable) và bền vững.

Phương pháp sinh học
Một số tảo và vi khuẩn chuyên biệt có thể sản sinh ra hydrogen như là sản phẩm phụ trong quá trình trao đổi chất của chúng. Các sinh vật này thường sống trong nước, phân tách nước thành khí hydrogenvà oxygen. Hiện tại, phương pháp này vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu.

Ví dụ của phương pháp này là việc ứng dụng một loại tảo đơn bào có tên Chlamydomonas reinhardtii. Các nghiên cứu cho thấy loại tảo này chứa enzyme hydrogenase có khả năng tách nước thành hai thành phần hydrogen và oxygen. Các nhà khoa học đã xác định được cơ chế quá trình, điều này có thể giúp mang lại một phương pháp gần như vô hạn để sản xuất hydrogen sạch và tái sinh. Cơ chế này đã phát triển qua hàng triệu năm tiến hóa giúp tảo tồn tại trong môi trường không có oxygen. Một khi ở trong chu trình này, tảo “thở” bằng oxygen lấy từ nước và giải phóng ra khí hydrogen.

Gần đây, các nhà khoa học tại trung tâm năng lượng hydrogen của trường ĐH tiểu bang Pennsylvania cũng đã nghiên cứu thành công phương pháp tạo ra hydrogen từ quá trình vi khuẩn phân hủy các chất thải hữu cơ sinh học, như nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp v.v. Ứng dụng nghiên cứu này sẽ mở ra triển vọng to lớn đầy hữu ích, vừa kết hợp xử lý nước thải và vừa sản xuất hydrogen cung cấp cho pin nhiên liệu vi khuẩn (micro-fuel cell), tạo ra điện năng.







 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 | Designed by Rumah Dijual | Support by Blog Thiết Kế