HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

ANH ĐI ANH NHỚ QUÊ NHÀ NHỚ AO RAU MUỐNG NHỚ CÀ DẦM TƯƠNG


ANH đi một sớm thu về
ĐI không giả biệt lời thề hẹn ai
ANH đi không hẹn ngày mai
NHỚ người em gái nương khoai quê nhà
QUÊ hương bỏ lại mù xa
NHÀ trông mẹ đợi anh ra sa trường
NHỚ ai phụ giúp mảnh vườn
AO bèo rau muống người thương trông chờ
RAU vườn chăm sóc bơ vơ
MUỐNG cây em hái trông chờ anh ơi
NHỚ chiều thu ấy bồi hồi
CÀ non chấm mắm cùng ngồi nhau ăn
DẦM mưa dãi nắng bao năm
TƯƠNG phùng gắng đợi đêm nằm thở than

Trịnh Quang Chiếu

KHÓC CƯỜI


                                                     


La Joconde

            Sinh ra bằng tiếng khóc oa oa chào đời, thế là cuộc sống như được báo trước bởi dấu hiệu không lành, cuộc đời là bể khổ trầm luân. Cũng có thể là tiếng reo vang vui mừng đến phát khóc vì được chào mừng ánh sáng trần gian.

Nhìn bào thai trong bụng mẹ, ấm êm trong cung điện tử cung, hay tiềm thủy đĩnh trong lòng đại dương, hoặc phi hành gia tròng trành bay lượn trên phi thuyền không gian, nay phải bước qua giai đọan mới, tất nhiên như chai sâm banh bật nút, tiếng khóc đánh dấu cuộc biến đổi quan trọng từ thể tĩnh đến thể động, từ môi trường bình yên sang tự lực cánh sinh, từ trạng thái an nhàn ra đối diện với thế nhân khó lường, bất trắc.

 Biết đâu là sau chín tháng giữ thế thủ, co ro cuốn mình, xoay vần trong bụng mẹ, nay tìm được sinh khí tự do, sao không mừng đến bật ra tiếng khóc? Hơn thế nữa, bạn cứ tưởng tượng hình dung một trẻ sơ sinh vừa lọt lòng mẹ mà cười! Cười thế nào? Bao nhiêu tiếng? Cách nào, mím chi, ha hả, mếu máo, méo xẹo, từng hồi từng chập...?

              Như chúng ta biết, cái cười là dấu ấn đặc biệt của loài người và chỉ có con người mới chào đời bằng tiếng khóc. Đó là lối giải tỏa, diễn tả tình cảm, dấu hiệu hai mặt chính của cuộc đời. Mừng đến phát khóc, cười ra nước mắt chứng tỏ khóc còn là cao điểm của cười và ngược lại
cười là tiếng khóc khô không lệ.



Cũng có thể đi đôi như vừa khóc vừa cười:“Le rire : la frontière est fragile entre la comédie et la tragédie. »(Beaumarchais)( Cái cười : ranh giới mong manh giữa hài kịch và bi kịch.)



Đề cập đến cách thực hiện, tiếng Việt ta thật hàm xúc phong phú, gợi hình... Chẳng hạn ta có khóc thầm, òa, mếu, giả (nước mắt cá sấu), nức nở, nỉ non, than, rống, thổn thức, tức tưởi, rưng rức, ấm ức, hờn, tủi, nghẹn, om sòm, oa oa...

Đối lại, cười cũng không kém, nào là cười mỉm, mím chi, chúm chím, tủm tỉm, khúc khích, gằn, gượng, méo xẹo, trừ, ruồi, nịnh, dê ( ba mươi lăm) ngạo, lăn, rũ, ‘nghiêng thành đổ nước’, ngất, dòn, trắng trợn, ha hả, xòa, rùm beng, khì, khẩy, vô duyên, ba phải...Già trẻ còn gặp nhau ở cái cười hồn nhiên, trẻ chưa có, già chẳng còn răng.


           Có những nụ cười nổi tiếng như cái khóc nổi danh được khắc ghi trong văn hóa nghệ thuật. Trong phép xử thế, người Pháp có câu :
    Le rire est le propre de l’homme. » - Rabelais (Cười là đặc tính của con người).
   Le sourire est le chapeau du charme » (mỉm cười là chiếc nón của sự duyên dáng).

          « Un sourire ne coûte rien
        Et pourtant il n’a pas de prix »
       (Mỉm cười không tốn kém gì
        Tuy nhiên thật là vô giá.)

 Đồng dao Việt,
      ‘ Nghe như chọc ruột tai làm điếc,
       Giận dẫu căm gan miệng mỉm cười’.

       Truyền thống hiếu hòa, chín bỏ làm mười của dân tộc ta được hun đúc qua ca dao truyền khẩu khuyên răn chứng tỏ cười như làn gió mát, cơn mưa rào, chất xúc tác hóa giải, một thứ vitamine tẩm bổ, « Cười bằng mười thuốc bổ », một chiếc đũa thần biến đổi phần nào cuộc đời.

Nhà văn Nguyễn văn Vĩnh cũng đã ghi rõ nét độc đáo của dân ta trầm tĩnh, chịu đựng, ít bộc lộ rõ rệt, ôn nhu qua bài «  Gì cũng cười » :
       “  An nam ta gì cũng cười. Hay cũng cười. Dở cững cười. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang”.

 Hình ảnh đặc biệt của Ông Địa với chiếc bụng phệ trần và nụ cười toe toét, rạng rỡ, hồn nhiên, vô tư, càng nhìn càng khó nhịn cười theo.


Ông Địa

Cái cười đẹp nghiêng thành đổ nước “Nhất tiếu khuynh nhân thành, Tái tiếu khuynh nhân quốc” được người Trung hoa truyền tụng thuộc nàng Tây Thi Bao Tự (1) tuyệt thế giai nhân có khi đã làm nước mất nhà tan.

Riêng Trình giảo Kim thì mừng vì giết được kẻ tử thù nên đã cười cho đến gục chết luôn ngay trên thây địch còn nóng bỏng.

Trong truyện của Kim Dung, Hồng Thất Công và Tây Độc Âu dương tỉ thí võ nghệ nhiều lần bất phân thắng bại. Sau đó xóa bỏ hiềm khích cùng ôm nhau cười và chết.



Tượng Phật Di Lặc

Phim ảnh Pháp cũng nổi danh với nụ cười khó tả của anh hề mặt ngựa Fernandel bất hủ.
Thế giới đã ngất ngây chiêm ngưỡng bức họa truyền thần La Joconde của Léonard de Vinci danh họa Ý với nụ cười mỉm “vô hình”, tự ai nấy thấy hình dung tưởng tượng.

Về khóc, tục lệ cổ Trung quốc buộc người con gái trong đêm trước ngày xuất giá, phải tự mình khóc lóc nỉ non hoặc mượn người khóc mướn, kể lể công ơn cha mẹ cách biệt từ đây.

Trong truyện Tam quốc, ta thấy có Lưu Huyền Đức một phần nào đã nhờ tài khóc như Lưu Bị mà dựng nên nghiệp đế.

Ngày nay, văn hóa nghệ thuật đã góp phần không nhỏ về vấn đề nầy. Những chuyện tiếu lâm, tác phẩm hài hước, bức tranh hí họa, bi hài kịch, phim ảnh, hai anh hề clown Pháp mập ốm Laurel&Hardy, Charlie Chaplin tức Charlot, Eddie Murphy, Bob Hope, danh hài Pháp Louis de Funès, Bourvil, Coluche, Michel Lebb ... chiếm vị trí quan trọng trong việc tô điểm, chấm phá nét đẹp riêng cho thế giới văn minh tiến bộ huyền bí không bao giờ ngưng thay đổi.

“Khi con người mới sinh ra thì khóc và người chung quanh lại mỉm cười. Ngược lạị khi từ giả cuộc đời hãy mỉm cười trong khi người chung quanh bạn khóc.”

          Nếu ví cuộc đường trần là một cây thước xếp với những đoạn năm đều đặn khi cao lúc thấp như vui buồn lẫn lộn mà khóc là điểm đầu và điểm cuối, ta có cảm tưởng là đời sướng ít khổ nhiều. Dù biết thế mà không một ai muốn chết. Vẫn biết cát bụi rồi trở thành cát bụi nhưng có mấy ai thích nghĩ tới làm chi. Con người luôn có tham vọng cải lão hoàn đồng, trưòng sinh bất tử kèm thêm mộng độc tôn bá chủ, do đó dễ biến cuộc đời nặng trĩu đau thương.

Cuộc sống thật ngắn ngủi, bất tường mà khóc cười như cán cân quân bình, ấn triện của thế nhân. Đời sẽ dễ chịu hơn biết bao khi ta biết trao nhau nụ cười tiếng khóc, dù trong khoảnh khắc, để lòng người người thơ thới, nhẹ nhàng biến chuyến đi chung vơi gánh lo âu, cùng nhau san sẻ sánh vai thung dung tiến bước.
         
          Cô Trần Thành Mỹ     

(1)Tây Thi thuộc Tứ đại mỹ nhân Trung quốc :
   1/ Tây Thi lạc nhạn (chim nhạn đang bay, thấy nàng buông cánh rớt xuống).
  2/Chiêu quân trầm ngư (cá lặn).
  3/Điêu Thuyền bế nguyệt (trăng mờ đi).
  4/Dương quý Phi tu hoa ( hoa đang nở vội khép lại).

MÙA THU VIỄN XỨ




( Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong các mùa nầy chỉ có mùa thu là mùa dễ chịu nhất khí trời dìu dịu mát, có gió heo may thổi bầu trời trong xanh điểm vài vầng mây trắng trong vườn hoa có các lá mùa thu khoe sắc đủ màu như một bức tranh thiên nhiên, có lá còn xanh tươi biểu tượng cho một niềm hy vọng nào đó, có lá đổi màu vàng đậm như sự quí phái, có lá màu đỏ như một sức sống mãnh liệt, có lá màu tim tím nhứ một sự nhung nhớ một cuộc tình dang dở có thể nói mùa thu là mùa xuân thư hai và chỉ có mùa thu là mùa của văn nhân thi sĩ mùa gợi nhớ gợi thương mùa của khoắc khoải sầu tư thầm kín tâm hồn đều bộc lộ vào mùa thu những ca khúc về mùa thu được kết nối thành vần thơ để gọi nhớ mùa thu xưa)

VÀO THU viễn xứ nhớ nhà ( HOÀNG TRỌNG )
GIỌT MƯA THU rớt lệ nhoà đôi mi ( ĐẶNG THẾ PHONG )
THU SẦU gợi nhớ những gì (LAM PHƯƠNG )
HOÀI THU chinh chiến mãi ghi vào lòng (VĂN TRÍ )
LÁ THƯ em gởi anh trông (ĐOÀN CHUẨN )
Ngồi đây nhớ lại bóng hồng TIẾC THU (THANH TRANG )
ĐÊM THU biên giới mưa mù (ĐẶNG THẾ PHONG )
THU CA anh hát để ru giấc nồng(PHẠM MẠNH CƯƠNG )
MÙA THU CHẾT lặng trong lòng( PHẠM DUY )
NGÀN THU ÁO TÍM đợi mong ngày về (HOÀNG TRỌNG )
THU VÀNG tình đẹp duyên quê ( CUNG TIẾN )
Chờ mong MẤY ĐỘ THU VỀ gặp nhau (MINH KỲ )
MÙA THU LÁ BAY đổi màu ( nhạc HOA lời VIỆT )
BUỒN TÀN THU nhớ nghẹn ngào chia tay (VĂN CAO )
CHIẾC LÁ THU PHAI bao ngày (TRỊNH CÔNG SƠN )
Mùa THU QUYẾN RŨ tình ai nhớ nhiều (ĐOÀN CHUẨN TỪ LINH )
Nhìn cây LÁ ĐỖ MUÔN CHIỀU ( ĐOÀN CHUẨN )
MỘT CHIỀU THU nhớ thêm nhiều quê xưa (NHẬT BẰNG )
Trịnh Quang Chiếu


TÔI MÃI NHỚ


                                                                      


Tôi mãi nhớ một thời còn non trẻ
Sung sướng nào hơn sống với mẹ cha
Mỗi sáng chợ về đàn con tíu tít
Tề tựu bên nhau chờ được chia quà

Mỗi tối về luôn nghe bà kể chuyện
Miệng vừa nhai trầu bà kể huyên thuyên
Mãi ngủ gật gù nên tôi ít nhớ
Chỉ nhớ nhiều chuyện , con cháu rồng tiên (1)

Lên năm tuổi, tôi vào trường tiểu học
Lắng nghe thầy dạy những bài vỡ lòng
Nước Văn Lang do vua Hùng lập quốc(2)
Bất khuất hiên ngang,nòi giống Lạc Hồng(3)

Từ thế kỷ đầu là Hai Bà Trưng
Quyết vùng lên chống lại quân Nam Hán
Trừ tên thái thú Tô Định hung tàn
Giành độc lập, dù thời gian quá ngắn.(4)

Và tiếp theo là anh thư họ Triệu
Tên Trinh Nương thề không chịu sống hèn
Cùng người anh đồng quyết chí vùng lên
“Thề chém cá kình”, chớ không sống nhục(5)

Thế kỷ thứ mười, (tướng)Ngô Quyền giết giặc
Máu quân Tàu nhuộm đỏ Bạch Đằng Giang
Thắng quân thù, sau khoản một ngàn năm
Và nhờ đó, nước Nam ta đôc lập(6)

Tôi mãi nhớ,vào thời kỳ  nhà Lý
Tướng Lý Thường Kiệt bình Chiêm phá Tống
Chiến thắng lẫy lừng rạng rỡ non sông
Với bài hịch truyền “sơn hà Nam quốc”.(7)

Tôi mãi nhớ từ hơn ngàn năm trước
Cũng nơi sông mang tên Bạch Đằng Giang
Hưng Đạo Vương đã diệt lũ tham tàn
Là bọn Nguyên Mông ba lần đại bại.(8)

Tôi mãi nhớ Bình Định Vương Lê Lợi
Đất Thanh Hoá, mười năm chống quân Minh (9)
Cùng muôn dân bảo vệ giang sơn mình.
Đánh tan lũ giặc không còn manh giáp


Tôi mãi nhớ người anh hùng áo vải
Nơi quê Bình Định,Nguyễn Huệ Quang Trung
Kéo hùng binh thần tốc đến Thăng Long
Giặc Mãn Thanh bất ngờ không kịp chết.(10)

Tôi mãi nhớ trên bước đường dựng nước
Tổ tiên ta cùng mở đất phương Nam
Tận mủi Cà Mau từ hàng trăm năm
Trấn Gia Định nhớ ông Lê văn Duyệt (11)

Nước Nam ta lắm anh hùng hào kiệt.
Thời thực dân.bao chiến sĩ kiên cường
Chiến sĩ Nguyễn Thái Học,một tấm gương(12)
Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân,Trương Định.(13)
                                              
                                               Tôi mãi nhớ và muôn đời mãi nhớ
                                               Quê hương tôi thời Việt Nam Cộng Hoà
                                               Đang phát triển trong dân chủ,tự do,
Bổng sụp đổ bởi chiêu trò bội phản

                       Tàn cuộc chiến, bao anh hùng vị quốc
                       Đã hiên ngang tuẩn tiết, theo tiền nhân
                       Phú, Nam, Hưng, Hai, Vĩ chết theo thành
                       Là những thần tướng, anh linh muôn thuở(14)


Tôi mãi nhớ, như in trong tâm thức
Bút mực nào ghi hết những anh hùng
Và những anh thư,với bao chiến công(15)
Luôn cuộn chảy trong tim dòng máu Việt .

Ta phải nhớ trang sử dài chống giặc
Bọn chúng luôn từ phương bắc tràn qua
Hãy cùng nhau gìn giữ sơn hà
Ai cổng rắn cắn gà nhà (là) đắc tội.
                                                                                                                                   Hùng Việt



(Vì có liên quan đến lịch sử, và vì muốn thế hệ con em có cái nhìn khái lược về những anh hùng liệt nữ của nước ta, xin được phép ghi những dòng chú thích tương đối ngắn gọn, không dài dòng,nếu cần tìm hiểu thêm, nên xem tài liệu trên các phương tiện truyền thông ,sách báo.)
(1)- Con cháu rồng tiên:
Do sự tích vua Đế Minh (cháu ba đời vua Thần Nông)đi tuần thú đến tỉnh Hồ Nam,gặp một nàng tiên ,sinh ra đứa con tên Lộc Tục,và Lộc Tục được làm vua phương nam,lấy con gái là long nữ,sinh ra Sùng Lãm.Sùng Lãm nối ngôi,xưng là Lạc Long Quân.Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ, sinh ra 100 người con.Vì một  nguời là rồng,ngưòi kia là tiên không thể sống đời với nhau,nên chia ra mỗi ngưòi 50 con.Do vậy mà có sự kiện “con cháu rồng tìên”. (Quốc gia nào cũng vậy, luôn có những huyền thoại tốt đẹp về dân tộc mình.Chúng ta càng phải tự hào,không nên dùng nhãn quan hiện nay mà luận bàn chuyện ngày xưa)
(2)-3/-Nước Văn Lang
Lạc Long Quân cho người con trưởng sang làm vua,cai quản vùng đất, đặt tên là nước Văn Lang. Văn Lang là tên đầu tiên của nước ta gồm 15 bộ (gồm hầu hết các tỉnh miền bắc ngày nay) và vua đóng đô ở Phong Châu.Các vì vua Văn Lang đều xưng là Hùng Vương, truyền ngôi 18 đời, tất cả   2622 năm (đến năm 1158 trước tây lịch (T.L)(Cũng vậy, ngoại trừ về tuổi tác của các vua . . , về nưóc Văn Lang là hoàn toàn có thật, mà ngày nay vết tích vẫn còn.)
(4)-Hai Bà Trưng
 Năm 34 sau T.L, vua Quang Vũ bên Tàu sai tên thái thú Tô Định sang cai trị nước ta. Hắn là một tên gian ác, và lại giết Thi Sách, là chồng bà Trưng Trắc (con quan lạc tướng Mê Linh,Phúc Yên). Vào năm 40, bà cùng em là Trưng Nhị nổi lên chống lại ,và đuổi Tô Định chạy về Nam Hải. Hai Bà thu phục được 65 thành, lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Thật là một sự kiện vô cùng quan trọng, vì nhờ chiến thắng nầy,nưóc ta đã thoát được  Bắc thuộc lần thứ nhứt. Sau 3 năm, vua nhà Hán, bên Tàu sai tên Mã Viện sang đánh nước ta, hai bà Trưng bị thua, chạy đến sông Hát Giang và nhảy xuống sông tự sát. Tuy thời gian ngắn ngủi chỉ 3 năm, nhưng thật vô cùng quan trọng, vì trên thế giới, không hề có sự kiện  nữ anh thư đầu tiên đánh thắng ngọai xâm, nhứt là ngoại xâm là bọn nước lớn (giặc Tàu)đầy bạo ngược.

(5)- Bà Triệu:
            Đây cũng là một trang sử oai hùng của dân tộc ta.Vào năm 248 sau T.L, bấy giờ quân nhà Ngô(bên Tàu) cai trị nước ta thật vô cùng tàn ác, dân tình khổ  sở . (quân Tàu thời nào cũng tàn ác, luôn muốn xâm chiếm V.N). Bà Triêu tên thật là Triệu Trinh Nương (người huyện Nông Cống, miền Bắc) đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt chiêu mộ các tráng sĩ cả ngàn người,nổi lên chống giặc được hơn 5 tháng.Sau bà bị thua, phải tự sát lúc mới tròn 23 tuổi.Câu nói nổi tiếng của bà như sau: “ Tôi muốn cõi cơn gió mạnh,chém cá kình ở biển Đông. . .”. Thật là một tấm gương sáng, đáng cho thế hệ sau tôn thờ. Tên của bà được đặt cho nhiều con đường tại sài gòn, đường bà Triệu gần bệnh viện Chợ Rẩy

-6 Ngô Quyền:
Lúc bấy giờ, bên Tàu vào thời ”ngũ đại “ hay “ngũ quỉ” gồm các nhà Hâụ Hán, Lương,Tấn,Chu,Đường tranh nhau quyền hành.Vua nhà Đường bên  Tàu sai tên tướng Hoằng Tháo sang đánh nước ta,bấy giờ vào năm 938. Dương Diên Nghệ đang là tiết độ sứ, và Ngô Quyền là bộ tướng, được cử cầm quân chống giặc ngoại xâm. Ông đã chận đánh quân thù  tại sông Bạch Đằng Giang. Ông cho đóng cọc gổ nhọn dưới lòng sông, chiêu dụ bọn Tàu tiến sâu vào, trong khi quân ta mai phục hai bên bờ, Đợi khi thủy triều xuống, quân ta tràn ra, quân Tàu hoảng hốt, thuyền giặc bị cọc nhọn chọc thủng, bọn chúng bị bên ta nỗ lực dùng cung tên hoả pháo tiêu diệt hầu như trọn bộ quân giặc, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Tàu nghe tin khóc òa lên (vì tên Hoằng Tháo là con của hắn ta), và không dám sang đánh ta nữa. Đây cũng là một thời điểm vô cùng quan trọng, vì đã cởi được ách bắc thuộc lần thứ ba. Sau chiến thắng, tại nước ta nhà Ngô lên làm vua từ 939-965.

7/- Lý Thường Kiệt:
            Ông là một danh tướng có nhiều công trang trong thời nhà Lý(phá Tống bình Chiêm).
            Nhà Lý khởi nghiệp do Lý Công Uẩn (từ 1010-1225),là giai đoạn khá sôi động,vì có lúc phiá Việt Nam đã không e sợ, mà còn dám đương cự với Tàu.Lúc nầy bên Tàu do nhà Tống cai trị. Tuy không trực tiếp cai trị, nhưng vẫn lâm le, nhứt là khi Vương An Thạch (bên nhà Tống) đã thực hiện nhiều cải cách. Riêng Chiêm Thành có lúc không chịu thông sứ mà còn gây rối tại vùng biển. Đến năm 1076, quân nhà Tống tiến vào lảnh thổ nước ta, nhà Lý đã cử tướng Lý Thường Kiệt mang quân cự địch (ở Bắc Ninh).Lúc đầu khí thế quân Tống hung hăn, gây nhiều thiệt hại cho quân ta, để cỗ võ tinh thần binh sị, ông đã cho truyền bài hịch:”Nam Quốc sơn hà” như sau:

                        Nam Quốc son hà nam đế cư
                     Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
                     Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
( Giang sơn Việt Nam của người Việt ở, đã ghi rõ nơi sách trời,nếu quân nghịch sang xâm phạm, sẽ bị đánh tơi bời)
Nhờ vậy, lòng quân lên cao, và cũng vì quân Tống đi xa, gặp chướng khí ,đã bị chết quá nửa trong số 8 vạn quân.Do vậy, Tống đành phải lui binh.Và trước đó,năm 1075, Lý Thưòng Kiệt đã sang “bình Chiêm”, vẽ lấy bản đồ 3 châu mà vua Chiêm đã nhường trưóc đó(vùng Quảng Bình).Thời gian nầy, tướng Lý Thường Kiệt đã ngoài 70, nhưng còn dũng mãnh.Từ đó, phía bắc đưọc yên,phía nam thì bình phục được chiêm Thành,các nước phía nam đều triều cống cho ta. Đây là giai đoạn khá huy hoàng trong  lịch sữ nưóc ta. Cũng cần nói thêm, vấn đề Chiêm Thành và Việt Nam, không hề có chuyện thôn tính hay tiêu diệt, vì rõ ràng đã nhiều lần Chiêm Thành cũng sang đánh phá, có lúc Việt Nam cũng bị thua, quân Chiêm vào kinh đô Huế, bắt đi nhiều ngàn người cùng kho tàng châu báu của  Việt Nam.Trang sữ đã lật qua, nhưng sự thật vẫn còn đó, “quá khứ là quá khứ”,mỗi giai đoạn có luật pháp và công pháp quốc tế riêng..

8/- Hưng Đạo Vương:
Đây là trang sử chiến tranh vệ quốc vô cùng hào hùng cuả Việt Nam ta.Lúc bấy giờ, bên Tàu do nhà Nguyên cai trị, và người ta được biết với cái tên Mông Cổ,vào thế kỷ 13(1284).Trong lịch sử, những tên vua Mông Cổ như  Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt... lừng danh, ai cũng khiếp sợ.Đạo quân của chúng đã từng “dẫm nát Âu Châu”, và “nơi nào quân Mông Cổ đi qua là cỏ không mọc nổi”.Tại Việt Nam chúng ta, bấy giờ vào đời nhà Trần,với những vị vua tài giỏi giàu lòng nhân ái, biết lo cho nước cho dân. Cũng như bao đời qua của bất cứ triều đại nào, bọn giặc Mông Cổ đã 3 lần tràn sang hòng  đánh chiếm nước Nam, với chiến thuật muôn đời “lấy thịt đè người”.Trong 3 lần tiến đánh ta, chúng đã từng huy động đạo quân 50 vạn người(500.000 quân).Nhà vua và một số cận thần nhà Trần muốn cầu hoà, nhưng Trần Hưng Đạo Đại Vương đã dõng dạc thưa: “Đầu tôi chưa rơi khỏi cổ ,xin bệ hạ đừng lo”, và vua nhà Trần cũng đã triệu tập Hội Nghị Diên Hồng, hỏi ý kiến lòng dân,và toàn thể bô lão, đã “thề quyết chiến”. Do vậy, toàn dân quân hết lòng chống giặc,với các tướng tài lưu danh muôn thuở như: Trần Nhựt Duật,Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư,Phạm Ngũ Lão,Trần Bình Trọng. Quân Mông Cổ do các tay tướng như: Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Toa Đô. . . tiến sang ba lần đã chịu thua cả ba, với những trận tại Hàm Tử Quan, Vân Đồn,Chương Dưong, Tây Kết, Vạn Kiếp, và đặc biệt trên sông Bạch Đằng(cũng áp dụng chiến thuật như tướng Ngô Quyần năm 938.) Trong lịch sử thế giới, chỉ có Việt Nam là một quốc gia bé nhỏ, nhưng đã đánh bại quân Mông Cổ. Bọn chúng  sau 3 lần đại bại, rất tức tối, lại muốn sang đánh nước ta,nhưng cũng e ngại.Về phía Việt Nam, nhà vua cũng không muốn chiến tranh,nên đã cầu hoà để dân tình không phải khổ sở. . . Qua lịch sử oai hùng như đã ghi, ta biết và nhớ tên những con đường, những bến sông tại khắp mọi miền Việt Nam mang tên những danh tướng nước nhà. Đặc biệt, là Trần Hưng Đạo Đại Vương, được tôn xưng là “thánh tổ “ của hải quân VNCH, hiện còn bức tượng sừng sửng nơi bến  Bạch Đằng(Sài gòn), Riệng tại hải ngoại, tại miền nam Cali(Hoa Kỳ), thành phố Westminster hiện hữu đền thờ và bức tượng đức Thánh Trần trên đường Bolsa,Kính mong chúng ta hãy nhớ lấy và thế hệ con em Việt Nam hãy nhớ đức Thánh Trần (và các tướng khác) đã từng đánh thắng bọn bành trướng từ phiá bắc.
9/- Lê Lợi:
Đây là thời kỳ vào khoản thế kỷ 15, bên Tàu vào thời nhà Minh sang cai trị nưóc ta, dân tình đói khổ.May mắn thay, bấy giờ nước ta xuất hiện anh hùng khởi nghĩa chống quân Minh là ông Lê Lợi trong thời gian khá dài là 10. Thành trì chống giặc là tại tỉnh Thanh Hoá. Lúc đầu vì thế yếu, phải lui binh cố thủ Chí Linh tới 3 lần, có lúc phải xin cầu hoà... Cuối cùng, Bình Định Vương Lê Lợi tiến ra đông đô, hào kiệt khắp nơi nô nức về qui phục,khí thế vô cùng, trong khi đó bọn giặc sau 10 cũng mõi mòn, không thắng nổi cũng tìm cách hoà hoãn.  Cuối cùng,tại trận chiến tại ải Chi Lăng, tướng nhà Minh là Liễu Thăng bị trúng kế,quân ta tiến công tiêu diệt cả vạn quân thù. Đó là vào khoản tháng 9/1427. Ông lê Lợi, sau khi đánh tan quân Minh, lên ngôi hoàng đế, tức Thái Tổ Cao Hoàng Đế.Trong thời gian chống quân Minh, nhiều nhân tài theo phò, như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, và Lê Lai. . . Ông Lê Lai là một tùy tướng vì nghiã cả đã hy sinh tánh mạng, mặc áo long bào giả dạng Lê Lơi, để Lê Lợi thoát khỏi cuộc truy sát của quân Minh. Ông Nguyễn Trãi là một danh tài, văn võ đã soạn bài hịch “Bình Ngô Đại Cáo”, làm nức lòng nghiã sĩ.T rong cuộc chiến chống quân Minh, có những điạ danh như Tuy Động, Bồ Đề và nhứt là Chí Linh... được dùng đặt tên, thành các địa danh, sau nầy chúng ta nên nhớ lấy.
10-Quang Trung:
Trong những chiến thắng chống ngoại xâm, đây là một trang sử vô cùng oai dũng của nước ta. Vào thời nầy, (khoản 1780), nhà Thanh cai trị Trung Hoa, với tay vua khá nổi tiếng là Càn Long.Tại Việt Nam ta, đây vào thời nhà Lê tới hồi mạc vận, lại có cả hai chúa Trịnh Nguyễn phân tranh nắm quyền lấn áp cả vua Lê,và tên vua Lê Chiêu Thống đã cầu viện nhà Thanh.Trong giai đoạn nầy, anh em nhà Nguyễn Tây Sơn đã dấy nghiệp tại Bình Định từ 1788 (và dựng nghiệp đế đến 1802). Trong ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, Nguyễn Huệ là một nhân tài quân sự, sức khoẻ vô song, với những chiến công lừng lẫy.Tại miền Nam,vua Quang Trung(khi lên ngôi, Nguyễn Huệ xưng là Quang Trung hoàng đế), đã từng tiêu diệt đạo quân 5 vạn tên quân Xiêm (do Nguyễn Phúc Ánh cầu viện) tại Rạch Gầm (Mỹ Tho).Trở về trận chiến, công cuộc chống quân nhà Thanh thật là vô cùng oanh liệt. Thời nào cũng vậy, Việt Nam có những anh hùng, cũng có những tên  mãi quốc cầu vinh. Đây là tay vua lê Chiêu Thống đã cầu viện nhà Thanh và dĩ nhiện quân xâm lăng đã có được một cơ hội bằng vàng. Tên vua Càn Long đã cử tên tướng là Tôn sĩ Nghị, cùng những tên tướng khác như Hứa Thế Hanh. Trương Sĩ Long, Sầm Nghi Đống. . . đã tiến quân vào tận Thăng Long, coi tên vua Lê như cỏ rác. Nguyễn Huệ được tin, triệu tâp tướng sĩ, nhứt định tiến quân ra Bắc. Ông đã áp dụng một chiến thuật thật tinh vi, đặc biệt với cuộc hành quân thần tốc, người đã áp dụng chiến thuật, vừa đi vừa tuyển mộ binh sĩ, vừa được dân chúng ủng hộ cung cấp thực phẫm dọc đường. Đến Nghệ An, ông cho dừng quân, để binh sĩ ăn Tết trước và hẹn tuần lễ sau tiến đến Thăng Long. Theo sữ sách ghi lại, vua Quang Trung đã huy động đạo quân cả 10 vạn cùng hàng trăm thơt voi, cho áp dụng hình thức “tổ tam tam”( cứ hai tên lính vỏng một tên lính được nghỉ, và cứ thế thay phiên), do vậy đoàn quân cứ tiến không ngưng nghỉ phút nào. Dĩ nhiên ngoài việc bảo mật về phía ta, quân Tàu cứ nghỉ chẳng bao giờ vua Quang Trung có thể tiến ra Bắc, nếu có chăng cũng phải hàng nửa tháng, nên chúng cứ lo ăn chơi phè phỡn, đoàn quân của Nguyễn Huệ ra tới nơi mà chúng chẳng hay biết. Do vậy, quân Nam ta chiến thắng nhanh chóng, khiến các tên tướng giặc không kịp trở tay, và... phải thắt cổ tự tử. Điều đặc biệt là những quân lính nhà Thanh trong thành Thăng Long, chịu qui hàng, vua Quang Trung đã không giết mà còn cấp cho quần áo, lương thực, và thả cho về xứ, không bắt nhốt giam cầm. Đấy là một hành động thật đáng ngơi khen. Điều cần ghi thêm,vào giai đoạn nầy, bên trời Tây cũng có một nhân tài quân sự là vua Nã Phá luân của Pháp..
.
11/- Lê văn Duyệt:
Khởi đầu lãnh thổ Việt Nam đại để là miền Bắc, và tuần tự tiến về phương Nam như sau:
            -Thời Lê Đại Hành(1069), lãnh thổ dài thêm tới Hà Tĩnh,Quảng Bình và bắc Quảng Trị
            -Từ 1306 (đến Quảng Nam, Quảng Ngải)-Từ 1402 (đến Qui Nhơn)-Từ 1471(đến Phú Yên)
            -Từ 1661 (đến Khánh Hoà) -Từ 1653(đến Phan Rang)- Từ 1693(đến tận Phan Thiết) và:
-Năm 1698,chúa Nguyễn cử chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược xứ Nông Nại(Gia Định), phân định ranh giới, vẽ bản đồ và đặt nền móng cai tri. . .
-Và cuối cùng, năm 1757, lãnh thổ Việt Nam dài tận đến mủi Cà Mau như hiện nay.
            Trong công cuộc mở đất phương Nam, công lao của cả triều đình và các quan tướng, nhưng công hàng đầu phải kể đến là đức Tả Quân Lê văn Duyệt. Ông là một công thần theo phò Nguyễn Ánh từ rất sớm và lập nhiều công trận. Ông cũng là tổng trấn (hai lần) đất Gia Định thành. Thời đó, Gia Định thành gồm cả từ Phan Thiết vào tận mủi Cà Mau. Ông được xem như phó vương, cai quản cả miền Nam. Hiện nay đền thờ  và bia mộ của ngài tại Gia Định cũ, được biết với cái tên “Lăng Ông Bà Chiểu”
12/Nguyễn Thái Học:
Ông là đảng trưởng của Việt Nam Quốc Dân Đảng.Đây là một đảng cách mạng chống lại thực dân Pháp, qui tụ nhiều thành phần gồm trí thức, điền chủ trung lưu và cả các quân nhân Việt đang phục vụ trong binh đội Pháp. Đảng thành lập năm 1927, hoạt động trong khoản 2 năm, phát triển khá rộng rãi khắp cả 3 miền. Sau khi bị khám phá, đảng trưởng Nguyễn Thái Học đã quyết định khởi nghiã ngày 10/2/1930.  Cuộc khởi nghĩa bị thất bại,và bị Pháp tàn sát hòng răn đe phong trào kháng chiến Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, rất nhiều phong trào như Đông du của cụ Phan Bôi Châu,Phan Chu Trinh, cũng như các cuộc khởi nghiã cuả của nhiều nhà ái quốc, như Đề Thám. . ., nhưng có lẽ nổi bật nhứt là cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng  năm 1930. Đáng buồn thay,cuộc khởi nghĩa không thành, đảng trưởng Nguyễn Thái Học, cùng 13 đảng viên đã bị thực dân Pháp đưa lên máy chém vào sáng ngày 17/6/1930. Đặc biệt người hôn thê của ông Học là Nguyễn thi Giang đã tự tử vài ngày sau.Sau đó hàng chục người  bị tử hình và Pháp đã mở cuộc tàn sát bằng cách dùng phi cơ ném bom làng Cổ Am(nơi khởi nghĩa)để hòng đe đoạ và tiêu diệt sự chống đối nổi dậy của chúng ta... Nhân cái chết của ông Nguyẫn Thái Học, nhà thơ Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy đã khiến ta thêm ngậm ngùi uất nghen qua những vần thơ:
                                     Gió câm hờn rền rỉ tiếng gào than
                                    Từ lưng trời sương trắng rủ màu tang
                                    . . . . .
                                    Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang
                                    Thẳmg tiến đến trước dài danh dự
                                     . . . .
Đảng trưỏngNguyễn Thái Học bị tử hình khi mới vừa  26  tuổi.Câu nói của ông được lưu truyền như sau:”Không thành công thì thành nhân”. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã gây tiếng vang khắp nhiều nơi kể cả tại Pháp, và đã châm ngòi cho nhiều phong trào, mặt trận kháng Pháp sau đó.

13/-Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, rất nhiều vị anh hùng như: Thủ Khoa Huân, Trương Công Định, Thủ Khoa Nghiã,Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực... Về đảng cách mạng, ngoài Quốc Dân Đảng, còn có Đại Việt Quốc Dân Đảng, Dân Xã Đảng và cả đảng Lao Động (cộng sản)nữa. Cũng như các nhà cách mạng như các ông Tạ Thu Thâu, Hồ văn Ngà, Nguyễn an Ninh (Cộng sản đệ tứ) Về đảng phái, có lúc các chánh đảng cùng tập họp trong mặt trận, gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh). Đây là giải thích ngắn gọn, không đi sâu vào chi tiết, môt điều cần ghi nhớ là công cuộc chống Tây, gồm nhiều đảng phái, cá nhân. . . không phải của một riêng ai. Để hiểu tường tận, xin hãy xem các tài liệu trên mọi phương tiện thông tin.

14/- 15/- Những anh hùng quân lực Việt Nam Cộng Hoà
            Vào ngày 30/4/1975, miền Nam bị sụp đổ. Hàng nghìn  chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng tuẩn tiết vì uất hận, đã không giữ lấy được quê hương. . Không ít những đơn vị chiến sĩ, biết bao binh nhì đến hàng sĩ quan, đã cùng nhau ngồi vòng tròn, nổ lưu đạn cùng tự sát, mà hầu như tên tuổi chẳng còn được nhớ. . . Và rải rác khắp các nơi, hàng trăm chiến sĩ đã tự sát. Đó là những anh hùng vô danh vì qua thời gian, mấy khi còn được nhớ tên Và cũng không ít những vị sĩ quan điềm tĩnh cùng gia đình tự sát. Đặc biệt những vị tướng tự sát vì uất nghẹn  như :
-Thiếu Tướng Phạm văn Phú,tư lệnh quân đoàn 2
 hoặc đang cầm quân, đã ung dung chết theo thành như:
-Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4
-Thiếu tướng Lê văn Hưng, tư lệnh phó quân đoàn 4
-Chuẩn tướng Trần văn Hai, tư lệnh sư đoàn 7 BB (vùng 4 CT),
-Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 BB (Vùng 3 CT). . .
-Cũng như đại tá Hồ Ngọc Cẩn, tiểu khu trưởng Chương Thiện đã chiến đấu đến giờ phút cuối.      
         -Trung tá Nguyễn văn Long nằm thanh thản tự sát trước tòa nhà quốc hội VNCH (Sài gòn).
Cũng phải ghi ra đây, biết bao anh hùng anh thư, những chiến sĩ thiên nga, biệt kích... đã nằm xuống nơi trận tiền hay phải chịu cảnh đoạ đài trong tù ngục.
Trong lịch sử thế giới, hầu như không xảy ra sự kiện  nhiều chiến sĩ thanh thản tự sát (không phải trong cơn bối rối ... ) như những vị anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Hiện nay,tại khu tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ (thành phố Westminster, Quận Cam-Nam Cali -Hoa Kỳ), hiện hữu một tấm bia tưởng niệm với tên và danh tánh khoản trên 40 sĩ quan tuẩn tiết trong ngày đau buồn 30/4/1975

                    


NHỚ MẦU HOA TÍM


Quê tôi biền biệt chưa về
Nhớ dòng sông HẬU tái tê cõi lòng
Chiều tàn viễn xứ mênh mông
Chim trời cá nước vẫn không phai mờ
Quê người cảnh đẹp mộng mơ
Mà sao vương vấn tuổi thơ vẫn còn
Cầu dừa qua rạch lối mòn
Lúa vàng bát ngát véo von chim đồng
Tuổi thơ thuở ấy tóc xanh
Bụi trần chưa vướng như tranh tuyệt vời
Cạnh bờ ngắm đám lục bình
Màu hoa tim tím nhớ hình áo ai
Lục bình trôi nổi vô bờ
Bềnh bồng sóng nước biết giờ nơi đâu
Như người thiếu nữ tình đầu
Muộn màng duyên phận tìm đâu tương phùng
Cái mầu tim tím nhớ nhung
Lòng còn vương vấn thuỷ chung mặn mà
Ước sao trở lại ngắm hoa
Cho lòng thanh thản lệ nhoà mắt ai
Trịnh Quang Chiếu

ĐÁM GIỖ MIỀN TÂY




Tôi gắn bó với miền Tây hơn 17 năm. Đối với nhiều người 17 năm đó như chỉ thoáng qua, nhưng với tôi khoảng thời gian ấy đủ dài để tôi thấy yêu và nhớ quê khi lên thành phố học. Sài Gòn xa hoa, tráng lệ quá và có lẽ vì thế mà nhiều người trẻ như tôi ngày đó thích nó hơn thích quê. Nhưng ít lâu sau xuất ngoại du học và sinh sống lâu năm ở hải ngoại tôi cảm thấy nhớ quê mình quá, chỉ muốn được về, về với vùng đất yên ả thanh bình ấy thôi.

Tôi yêu Sóc Trăng quê tôi, yêu những ngày thơ ấu chạy theo mấy bạn bè thả diều ngoài đồng, kéo đám bạn quỹ xứ đi hái cắp trái khế của nhà hàng xóm; đi ra đồng ruộng Nhu Gia bắt ba khía hay câu cá bống ngoài mấy cái ao gần nhà ngoại, hay những khi chen chân vào bờ sông Maspéro để được xem lễ đua ghe ngo Oc Oom Bok.

Tôi cũng được chứng kiến sự thay đổi của vùng quê, từ căn nhà lá đơn sơ với chuỗi ngày phải xài đèn dầu loe hoe hay đèn khí đá, những con đường đất lầy lội sau cơn mưa, cho đến khi nhà nào cũng xây tường gạch có đèn điện thắp sáng và những con đường được tráng nhựa láng cóng. Nhớ những ngày mùa sau khi những kỳ thi lục cá nguyệt, tôi lái xe chạy vào ruộng xem các anh em họ nội ở Ngã Bảy và Cái Tắc hay họ ngoại ở Nhu Gia phơi lúa. Tôi nhớ những bờ ruộng nho nhỏ, bước trên đó bao lúa ngọn ở trên vai các anh cứ nghiêng ngửa, nhiều lúc họ trượt cả chân xuống ruộng. Bây giờ, nhớ lại, tôi càng thêm thấu hiểu nỗi cực nhọc của những người nông dân, nó lớn hơn rất nhiều lần so với suy nghĩ giản đơn của một đứa con trai 17 hồi đó.

Cũng từ khi xa quê tôi mới thấm thía hai chữ “Miền Tây” và thấy yêu nó thật nhiều. Miền Tây và quê tôi như hòa làm một. Bởi lẽ quê tôi thuộc Miền Tây mà.

Tôi yêu quê tôi Miền Tây, yêu sự yên bình, yêu nắng chiều, yêu những hạt mưa rơi bên luỹ tre, yêu cơn gió thổi qua những tàu lá chuối, những ngọn khoai mì, cây vú sữa bên hiên nhà hay ở những ngọn dừa xa xa; hay đơn giản là tiếng dế kêu trong đêm, tiếng ếch nhái kêu trong những cơn mưa chiều tối. Yêu lắm những cánh đồng, những người dân quê thật thà chất phác, yêu những món ăn quê thân thuộc. Thương những người nông dân bên những cánh đồng xanh mướt lộng gió, yêu ngày mùa với những cánh đồng vàng ruộm, yêu nụ cười của cha mẹ cũng như tất cả những người nông dân khi được mùa. Tôi thương lắm người nông dân phải chịu nắng chịu mưa cùng cánh đồng, thương sự cơ cực của những ngày cấy lúa; những ngày phơi lúa gặp mưa, những lúc phải ngủ ngoài đồng hay trên mé đường giữ lúa; thương đôi chân trần đi ruộng bị ốc cắt vào; thương những giọt mồ hôi rơi xuống những hạt lúa vàng.

Ngày xưa theo phong tục miền Tây, mỗi lần tới đám giỗ, con cháu khắp nơi đều cố gắng về nhà trước ngày giỗ vài hôm để cùng quây quần chuẩn bị. Nếu bạn đã từng dự đám giỗ ở miền Tây, cái mà bạn sẽ cảm nhận được rõ ràng nhất ấy là thứ tình cảm gia đình, tình bà con hàng xóm và thứ văn hóa hào sảng, phóng khoáng của người miền Tây. Người miền Tây quan niệm đám giỗ không chỉ để tưởng nhớ người đã khuất mà còn là dịp họ hàng thân thuộc đoàn tụ, chia sẻ với nhau về chuyện làm ăn, chuyện học hành của con cái… và thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm.  Khi được mời đám giỗ, nhà nghèo hay khá giả đều háo hức. Người có tiền thì đi trái cây, rượu. Người nghèo thì bắt con gà, con vịt nuôi ở nhà làm quà cúng. Đặc biệt, không ai bảo ai, cứ trước đám một ngày, bà con bên nội cũng như ngoại ngay cả bạn bè thân lối xóm xúm lại, mỗi người một tay giúp đở nhà tôi lo giỗ.

Đám giỗ, trước đó cả tháng bà nội tôi dặn mấy cô bác ở Phong Dinh và các dì ở Nhu Gia để dành gà, vịt, heo ngon đừng bán vội cho khách. Bà nội đi chợ kiếm đúng gạo nếp mua về để sẵn. Trước một ngày, nội kêu đi cắt lá chuối, phơi nắng cho lá dẻo, để gói bánh tét. Nhà tôi mỗi lần làm đám giỗ là làm tới năm, sáu mâm, mà chỉ có bà con trong nhà và hàng xóm gần nhà thôi đấy. Mẹ tôi nói, mỗi nhà phải làm chừng vài chục cái bánh tét để cầm về làm quà cho con nít ở nhà. Bởi vậy phụ nữ như các chị họ, cô và dì trong nhà ngồi gói bánh tét từ chiều tới tối. Bánh chín, xếp hết ra sàng là nghe gà gáy đợt đầu. 

Bộ ván là thứ hầu như gia đình miền Tây nào cũng có, người ta ăn cơm trên đó, nằm ngủ trên đó, mấy ông nhậu lai rai vài xị cũng trên đó, con nít quậy phá bị bắt nằm cúi chờ đánh đòn cũng trên đó. Đồ múc ra tô dĩa, chuẩn bị dọn lên cúng cũng được để lên ván, nội coi đủ món hay chưa rồi mới bưng lên bàn thờ, đốt nhang mời ông bà về ăn. Tô, dĩa, chén sau một thời gian dài nằm trong tủ, được đem ra rửa sạch và cũng được bày ra trên ván trước khi đám giỗ bắt đầu. Dĩ nhiên, gói bánh bánh tét cũng ở trên bộ ván đó luôn. Mẹ tôi và các dì phụ bà nội làm bánh tét. Mẹ tôi bảo cách làm bánh tét miền Tây đòi hỏi người thực hiện phải có chút tỉ mỉ, kiên nhẫn. Chắc hẳn, để tạo ra từng đòn bánh tròn trĩnh, đầy đặn, đẹp mắt như thế, người làm bánh không chỉ yêu cái hương vị đặc trưng của món ăn mình làm. Hơn thế họ còn muốn thêm trải nghiệm gói bánh quê hương đầy dân dã. Bánh tét là biểu tượng của ẩm thực miền Nam độc đáo. Từ cách chế biến, cho đến những cảm giác ấm áp khi cả gia đình quây quần bên bếp lửa luộc bánh tét mỗi dịp Tết đến, xuân về là hình ảnh đẹp mà không nơi đâu có được. Mẹ tôi cho nước cốt lá dứa vào một cái thau, rồi đổ gạo nếp vào ngâm qua đêm để tạo màu xanh bắt mắt. Sau đó bà vớt gạo ra, đem xào với nước dừa trên chảo cho đến khi ngấm đều. Cách xào nếp gói bánh tét này giúp tạo mùi thơm đặc trưng cho bánh tét miền Tây. Phần thịt ba chỉ thì rửa sạch, để ráo nước. Tiếp đến, thái thịt thành miếng có độ dày khoảng 1 – 2 cm. Cách làm bánh tét miền Tây đúng chuẩn nêm thịt với 2 muỗng cà phê bột nêm, 1.5 muỗng cà phê muối, 1 muỗng cà phê đường và một chút tiêu. Trộn đều thịt cho ngấm gia vị, để khoảng 1 tiếng đồng hồ. Sau đó bà dùng tay nắm một mép lá theo chiều dài, rồi dựng lên, xúc nếp đổ thêm để phủ phần nhân thì nắm 2 mép lá gấp lại. Cuộn chặt tay bánh theo chiều kim đồng hồ để tạo thành hình trụ tròn. Sau đó, cột một dây lạt ở giữa để cố định. Tiếp tục gấp một đầu lá gập lên thân bánh rồi dựng đòn bánh lên, dùng một lực dọng cho phần nếp dồn xuống. Xé hai miếng lá chuối nhỏ có chiều ngang bằng với đầu đòn bánh xếp chồng lên theo dạng chữ thập, rồi cột cố định lại. Tương tự với đầu bánh còn lại. Đặt đòn bánh nằm ngang, lăn cho bánh tròn đều, cảm giác chắc tay thì dùng lạt cột mỗi cọng cách nhau một khoảng từ 2 – 3 cm. Sau đó bà cột một dây cố định ở đầu bánh bất kì để tiện cho việc cầm nắm và vớt ra sau khi luộc chín.

Ngoài món bánh bánh tét là những món phải có của đám giỗ miền Tây, những món còn lại thay đổi theo từng nơi, theo phong tục tập quán từng vùng và theo văn hóa mỗi gia đình. Ba má tôi thích làm lẩu lươn um rau muống hay còn gọi là lẩu lươn hay cù lao lươn. Món này các bác hay nhậu với rượu đế thì trứ danh. Bên phía ngoại tôi thì phải có món bì cuốn, thứ bì cuốn bằng bánh tráng bự như cái mâm, mười cuốn như vậy được cuốn chung lại với nhau, sau đó thì cắt khúc vừa ăn, dọn lên dĩa thật là đẹp. Bên ngoại cũng hay làm heo quay ăn với bánh hỏi, thỉnh thoảng có gỏi tôm trộn với ngó sen. Gà thì thường được nấu cà ri và nấu cháo. Vịt thì đem nướng hay nấu chao. Còn có các món chè nữa, ngoại tôi hay nấu chè đậu xanh, bánh da lợn, bánh bò đủ màu xanh trắng hồng. Món ăn đám giỗ thường là những món ngày thường ít nấu chứ không hẳn là món thật đặc sắc của miền Tây. Cái chính là dịp bà con gặp nhau, để các bà tranh tài nấu nướng, để ngồi lại dùng chung bữa cơm và hàn huyên đủ chuyện xưa nay. Mấy bà thì vừa cắt bánh tét, rửa sạch lươn, chặt heo quay vừa nói chuyện giá cả, chuyện con cái, bàn chuyện các tài tử cải lương như Út Trà Ôn Thành Được người ca hay người ca mùi đẹp trai hay các danh hài Tùng Lâm Phi Thoàng có tài diễn giỏi, v.v.... Mấy ông thì ngồi rề rà rượu đế, nhắc cái thời trai trẻ hồi xưa, bàn chuyện thời sự hôm nay, hỏi han nhau chuyện làm ăn mần ruộng, dự định sắp tới. Đám giỗ còn là dịp bà con trong họ dẫn con dâu con rể, đứa con, đứa cháu mới đi xa về đi chào mấy cô mấy bác. Hay chỉ là cái cớ để mấy người xa quê về nhà ở lại nhà tổ lâu lâu một chút, gặp được nhiều người lâu rồi không gặp, nhắc lại “tuổi thơ ban đầu” với đám bạn già hồi nhỏ.


Đã hơn bốn mươi sáu năm rồi tôi không có dịp dự đám giỗ miền Tây để trải nghiệm lại cái tất bật khi chuẩn bị, khi mệt lả người chạy ra chạy vô dọn mâm rửa chén vì bà con tới ăn giỗ từ sáng tới chiều tối, nhiều khi qua tới ngày hôm sau. Đám giỗ miền Tây là vậy nhiều khi có thể kéo dài mấy hôm liền từ khi chuẩn bị tới ngày cúng chính rồi kéo dài sang vài ngày sau là chuyện thường. Nhớ cái náo nhiệt của những ngày đầu hay cái giòn giã, sảng khoái của tiếng cười nói của các bác các anh em họ hàng lúc nhập tiệc. Nhớ cả sự bịn rịn khi chủ nhà trao cho bà con vài cái bánh tét làm quà cho đám nhỏ ở nhà và dặn dò “Năm sau là phải có mặt nữa đó nghen chú Năm, nhớ dẫn theo thằng Đức, thằng Trí nữa nha.”

Năm ngoái tôi có dịp trở về Sóc Trăng để ăn giỗ ba tôi cùng các em, các cháu và vài chú bác dòng họ nội cũng như ngoại còn sống sót nhưng vắng rất nhiều. Đa số các bác và chú đã ra người thiên cỗ, người còn lại thì sức khỏe yếu kém không đủ sức đi đường dài về Sóc Trăng dự giỗ. Tuy không gian rất đình đám vì con cháu dòng họ khắp miền tây và Sài gòn về khá đông nhưng đa số thức ăn mua làm sẳn như bánh tét, heo quay, lẩu lươn, bánh bò, v.v...chứ không phải như của ba má tôi hay bà nội chuẩn bị nhiều ngày như xưa nữa. Ngày nay ai ai cũng tất bật với công ăn việc làm. Hơn nữa thức ăn làm sẳn bày bán khắp nơi nơi không làm họ hàng tốn kém thời gian và công sức.

Cuộc sống hiện đại ngày nay đã hình thành nên những kiểu quan hệ và quan niệm xã hội khác xưa. Người ta trở nên thực dụng để thích ứng với sự đổi thay của xã hội. Việc đi đám giỗ bằng phong bì cũng không có gì để đáng phê phán vì ông bà ta từng nói “ăn theo thuở, ở theo thời”. Chỉ tiếc một điều là nét đẹp của đám giỗ ngày trước đã dần lùi vào quá khứ.

Đó là ở Việt Nam. Các em tôi dù ở thế hệ thứ hai hay thứ ba, họ vẫn còn cố gắng giữ một chút phong tục cổ truyền, tổ chức đám giỗ đình đám.

Khác với cuộc sống hải ngoại ngày nay chúng tôi cố gắng tổ chức một cái đám giỗ cho Ba hay Mẹ tôi ở chùa là đã quá đủ, ngay việc đãi tiệc ăn giỗ cũng do chùa đảm nhiệm. Nếu một mai thế hệ chúng ta ra đi, có lẽ phong tục này dần dần sẽ đi vào quên lãng...


Nguyễn Hồng Phúc
Kỷ Hợi 2019

 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual