HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

VÕNG MÂY KỶ NIỆM


                                                                                                                                             
                                                                    



Trung Học Gò công 1958


Nhất con,

Cám ơn con đã chỉ cho mẹ cách sử dụng máy vi tính để mẹ có thể liên lạc đó đây. Bây giờ mới thấy già thì như chiếc xe cũ, nay hư mai chạy, học rồi lại quên dù đã viết lên trên giấy nhiều lần. Con có dịp chỉ mẹ là con còn có phúc đó vì mẹ còn tỉnh trí, khoẻ mạnh, con có dịp khoe tài với mẹ, mà con biết bà mẹ nào cũng thường đánh giá con mình cao lắm. Con lại được làm thầy giáo dạy tư trong vài giờ, vài buổi, sống thử cái nghề mà bố mẹ trước kia từng say mê ấp ủ. Con lại được lên giọng thầy đời, nghiêm mặt “con nít lớn” của con lại, gằn giọng, thở ngắn thở dài, bắt mẹ lặp đi lặp lại nhều lần động tác một, động tác hai...Có lần mẹ bắt gặp con len lén nhìn mẹ, vẻ thương hại hiện rõ trong ánh mắt con. Con không biết đó chứ, lúc ấy mẹ mắc cở không biết dấu mặt mình vào đâu, không phải buồn ông thầy giáo hờ, chưa kinh nghiệm nầy mà mẹ giận mẹ sao mà tối dạ quá, tủi thân và khúc phim dĩ vãng thấp thoáng quay nhanh, chớp lia chớp lịa.

Con biết không, hồi còn đi dạy, mẹ xem trường lớp như là gia đình thứ hai của mẹ. Mồ côi sớm, không anh em, sống trong một tỉnh nhỏ mà mỗi cử nhất động của mình đều bị đánh giá theo truyền thống tập tục riêng, thế mà mẹ vẫn thấy ở đấy gần gũi quen thuộc với mẹ hơn, mẹ có thể giải tỏa bao nỗi niềm năng lực, ý hướng của mẹ hết lòng. Suốt thời gian dạy và học ấy, mẹ chỉ có nguyện vọng làm thế nào hòa mình với nếp sống mới, nâng đỡ học sinh yếu kém, khuyến khích học sinh giỏi. Tất cả đều ngang nhau, như em cháu mình và đó cũng là hình ảnh mẹ ngày xưa nữa.

 Vào lớp mẹ không có thành kiến, phân biệt gì cả. Mẹ đến không như một người truyền kiến thức bộ môn mình dạy suông thôi mà với tấm lòng của đứa con may mắn trở về nguồn. Mẹ là hiện thân của thế hệ trước mà cũng là hình ảnh khiêm tốn của tương lai. Với ý thức đó, mẹ có hoài bão là chính mình sẽ cảm hóa học sinh hơn là thưởng phạt. Mẹ cũng thường khuyên học sinh nên học cho mình, hơn là vì điểm, vì sợ con zéro hơn thầy cô.

          Như con biết Việt nam chỉ có hai mùa mưa nắng, quê mình có gần sáu tháng nước mẵn hằng năm. Mùa nắng nóng, học sinh đang sức lớn ngồi sát nhau từ 1 giờ trưa nghe gỉảng, thật khó lòng mà chăm chú vô cùng! Chuyện buồn ngủ, lim dim ngủ gật là thường, không phải lỗi tại thầy giảng như ru hồn vào mộng hoặc tại trò đang sung sức đâu cưỡng nổi thiên nhiên. Mẹ thông cảm điều đó vì biết khi cơn buồn ngủ kéo đến thi mặc tình cho chủ nhân tự ngắt, véo chống trả mãnh liệt cách mấy đi chăng nữa, hai mí mắt chẳng buồn nghe từ từ khép kín, buông xuôi. Người ta thường bảo con mắt là cửa sổ của tâm hồn còn mẹ thường ví ánh mắt học sinh như tia quang tuyến rọi vào tim phổi của thầy cô.

 Tỉnh mình học sinh thường từ làng xã xa lên học, đi sáng về tối, còn phải phụ giúp cha mẹ trong việc đồng áng chăn nuôi. Tối đến dưới ngọn đèn dầu chong, bên sách vở dầy cộm, sức trẻ cũng khó chống nổi sức tấn công mãnh liệt của đàn muỗi vo ve và Thần ngủ đang rải cát. Con thử tưởng tượng xem ‘con mắt nó lim dim’ thật giống như bóng đèn điện gần hư hết sáng hay bóng néon chớp tắt liên hồi làm nhức mắt, bực mình. Thà tắt đi cho nhẹ nhõm khỏi phải nhìn, có la có phạt rồi đâu cũng vào đấy. Mẹ thường lờ đi những trường hợp ấy vì biết chắc lát nữa đây khi giật mình thức dậy sẽ đánh thót lo âu, ngượng ngùng mắc cở, thế là sẽ nhớ đời và đủ đền tội rồi.

Vào đầu giờ mẹ thường hay hỏi lý do vắng mặt kỳ trước, lần nầy theo thông lệ mẹ cũng vui miệng:
 _  Hoành, tuần rồi sao em nghỉ?
 _ Thưa cô...
Câu bỏ lững làm mẹ ngạc nhiên nhìn lên thì thấy cả lớp toàn nam sinh như đang giữ thế, là lạ như cố nén cái gì. Mẹ lại nghĩ không biết mặt mũi, đầu cổ, quần áo mình có bị dính gì không, làm trò cười, trò hề nào đây. Sợ im lặng mẹ vội bảo:
­_  Sao em?. 
_  Dạ vợ em đẻ.
   Câu trả lời gọn nhẹ thẳng thừng bất ngờ làm cho mẹ thừ người ra, điếng hồn, choáng váng, nghẹn thở trong tình huống hết sức trớ trêu nầy, trước gần một trăm hai mươi con mắt học sinh khác phái đang chăm chú nhìn phản ứng của cô giáo trẻ còn độc thân chân ướt chân ráo mới ra trường. Trống ngực đánh lô tô không kịp nghĩ suy buông thỏng:
-   Con trai hay con gái ?
Vừa dứt câu, mẹ nghe một loạt cười rần, trước mắt ngẩn ngơ của mẹ là những hàm răng trắng xóa, những chiếc đầu gật gật lắt lắt hồn nhiên, hả hê, thích thú.
_  Dạ con trai.
 Thế là như tức nước vỡ bờ không còn gì ngăn cản nổi, một tràng cười như giàn pháo bông đón chào cháu bé mới ra đời.

 Ở quê, ngày xưa thường sanh con tại nhà nên khai sanh trễ có khi đến một vài năm. Do đó khi đi học người to hơn tuổi, người ta thường bảo là dấu tuổi. Hơn thế nữa, lập gia đình sớm là chuyện thường thấy trong xã hội thời bấy giờ. Và con biết không, từ đó mẹ đã có cháu kêu bằng bà cô hay “ sư bà”. Thích chưa! Tước vị nầy theo thời gian càng lâu càng lên ngạch trật có lẽ bây giờ  mẹ đã lên “sư bà bà” rồi....

          Trường Trung học Gò công là trường hỗn hợp, tuy nhiên vẫn có những lớp toàn nam hay nữ, số còn lại trong một lớp gồm gái lẫn trai. Bạn bè trong lớp nầy không biết xưng hô thế nào cho phải, còn ở Tiểu học thường gọi nhau bằng trò, bạn  nghe vui tai. Đến đây mới thấy cách xưng hô nước ta thật tế nhị , khúc chiết khác hẳn với Anh Pháp “I, you, me”, “Moi, toi, lui, elle”,..

Trong lớp thường nói trống không với nhau gọi là “nói trổng” hay xưng bằng “người ta”, đôi khi “tôi, tui’ khách sáo. Thử hình dung một cuộc đối thọai thông thường khá tức cười:
-  Ơ ơ ...chói quá, đóng cửa sổ lại dùm đi.
Im lặng, không ai nhúc nhích.
-       Làm ơn đóng dùm đi .
-       Xí, làm như người ta không có tên.
Thế rồi cửa sổ cũng được đóng lại.

          Dần dần cởi mở hơn, bạn bè cùng lớp đã biết gọi nhau bằng tên, hoăc anh hay chị. Dù ít có dịp gặp gỡ chuyện trò thân mật e tiếng thị phi, tuy nhiên vẫn có những cuộc tình hay hôn nhân đẹp xảy ra sau nầy.

          Tuổi học trò thường vô tư, bồng bột, nghịch phá ngấm ngầm hay rõ rệt nhưng ít khi cố ý, trả thù. Ngay cả những thành phần khó trị nhất vẫn không nghĩ đến hậu quả của mình có thể gây ra. Dù biết làm mai đứng đầu trong bốn cái ngu trên đời, „làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu“, các em cũng học đòi mai mối, nhạy bén trong việc gán ghép bạn bè, thầy cô mà đôi khi “ có khói tất có lửa “ cũng thành. Rắn mắt hơn, còn đặt hỗn danh biếm danh để phân biệt hoặc cho dễ nhớ. Có lần mẹ nghe thét lên trong giờ chơi: ‘’Mầy phá quá, tao mét thầy cho mà coi. Thầy Xếnh cho mầy mấy bạt tai, Oánh (đánh) cho mầy một trận đổ Lệ’’... À ra thế, dùng tên thầy cô mà đùa, trêu, chọc nhau nữa, tuổi trẻ có khác.

          Mẹ còn nhớ, có một dạo phong trào Thanh niên chí nguyện Mỹ đến dạy thêm cách phát âm cho học sinh trường. Họ thường to lớn dềnh dàng, tóc nâu vàng, mắt xanh không đen như mắt ta, đặc biệt là nhiều lông râu như con thấy ở đây. Quê mình may mắn là vùng nước mẵn nên ít có quân đội Mỹ trú đóng, do đó nhìn được tận mắt người ngọai quốc cũng là điều hi hữu, thích thú thỏa mãn tính tò mò. Lại được học trực tiếp nữa thì nhất cử lưỡng tiện thật.

Giờ học tiếng Anh có khi bắt đầu vào buổi trưa nóng bức, từ 1 giờ trưa. Học tiếng Việt lắm khi còn buồn ngủ huống hồ học tiếng oánh tù tì. Vốn có kỷ luật, ngoan ngoãn, hiếu học, sáu mươi học sinh lớp Đệ thất, lính mới tò te của trường, nghiêm chỉnh khoanh tay thủ thế, mở to tai mắt, quyết tâm chiến thắng nuốt chửng từ ngữ ngọai. Mẫu tự rồi đến từ đa âm vang vang, đọc chung rồi đọc riêng, không khí lúc đầu thật phấn khởi, thích thú.

          Một hôm, thầy người Mỹ dạy cách hỏi tên: What is your name?.Từng học sinh lập lại câu nói của thầy, xong thì ngồi chờ cho đến hết tua trên dưới 60 lần. Vốn hiếu động, lí lắc, tinh nghịch, liếng thoáng đâu thể ngồi yên, im lặng, bất ly cục kịch, tay chân táy máy, các em bắt đầu xù xì về chữ name:
          _ Tao đọc ‘nem’ ổng chê sai, tao sửa lại ‘nêm’ ổng cũng không chịu. Tưởng nem không ngon mình nêm nếm lại, té ra trật lất ráo trọi.

Đấy chỉ là thì thầm, xì xào lời qua tiếng lại giết thì giờ thôi. Đến đây mới thấy “ nhàn cư vi bất thiện” , vì trong lúc ngồi không, có em lại bắt đầu thắc mắc
-       Đố mầy, tóc thầy thật hay giả?
          -  Thật, còn mầy thì sao?
_ Chắc giả quá. Tóc mình đen hết từ gốc đến ngọn, còn tóc ổng không cùng màu, chỗ đậm chỗ lợt, chỗ vàng chỗ nâu, thiệt sao nổi.
_  Bộ mầy nghĩ thầy đội tóc giả hả?
Nói xong, khều bạn ngồi cạnh truyền tin giựt gân, đố vui, kết quả chưa ngã ngũ ra sao, bất phân thắng bại chờ hạ hồi phân giải.

Trong lúc đó, em khác lại hỏi :
          _  Mắt thầy sao giống hòn bi màu quá? Tao nhớ ba tao kể lại ngày xưa ở Tiểu học Gòcông có ông Trouché Thanh tra người Pháp mang một con mắt giả bằng cục kè đó. Mắt giả thì không có liếc qua liếc lại được.
              - Vậy mình thử đi.
  Nói xong liền lấy cục phấn nhỏ ném lên bảng đen gây khan tiếng động ‘cắc’.
 Giật mình thầy quay phắt lại, ngó trái nhìn phải không thấy động tịnh gì, mắt đảo vòng kiểm tra cho chắc. Thế là cuộc thử nghiệm thành công xác định mắt thầy thứ

thiệt trăm phần trăm. Hai cậu bé thúc cùi chỏ                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             nhau đồng ý về sự phát giác hết sức ngộ nghĩnh nầy.

          Đến đây tưởng chừng như dứt phim vì thầy đã xong vòng lớp học trở về bảng đen, tiếp tục vừa đọc vừa viết các dấu hiệu phiên âm mới thấy lần đầu. Áo sơ mi ngắn tay để lộ cánh tay trần phốp pháp rậm rà rậm rịt lông vàng cứng xoắn kích thích trí tưởng tượng dồi dào của tuổi trẻ. Chúng nhìn thầy rồi lại nhìn mình, cũng nam nhi chi chí, cũng râu cũng lông cũng tóc thế mà có thứ rừng già thứ loại rừng thưa.

          Cậu này nháy cậu kia, nheo mắt như dò hỏi thách đố. Nhớ lại tóc cũng chưa phân biệt được giả chân, giờ còn thêm họ hàng lông râu nữa vì “cái lông cái tóc là gốc con người” làm các em bức rức không yên.

          _ Theo mầy, lông thầy thật không?
          _ Ai mà biết, cái thằng nầy, mầy hay thắc mắc lẩm cẩm tầm ruồng quá, hết tóc rồi bây giờ đến lông. Có giỏi thì hỏi ổng đại đi. Ổng quật nhẹ, phủi bụi sơ mầy một phát là đi đời nhà ma nghe con. Tao nói thật, ổng chỉ cần vung cho mầy một sợi lông thôi, như gai ‘chùm lé’ càng lễ càng khêu càng ăn sâu, mầy có nước bị thúi mắt thúi... tim nữa hổng chừng.
          _ Thằng nầy đọc chuyện Tàu riết thành lậm, mầy làm như Tôn Ngộ Không rứt lông hóa phép biến thành nhiều khỉ khác giống mình. Mầy ‘ba phải’ quá, hỏi ý kiến mầy như không, vạch đầu gối hỏi còn sướng hơn.

Câu chuyện đến đây bị cắt đứt vì thầy đã đến trước mặt, hai tay chống xuống bàn nhìn em phát âm. Đọc xong, nhân cơ hội thuận tiện nầy, em bèn sờ nhẹ vào ‘mục tiêu’.  Nhồn nhột, thầy nhìn xuống, để yên. Em nhìn lên, bốn mắt gặp nhau tưởng như thông cảm lắm. Thình lình không dằn được nữa, em giựt phắt nhanh sợi lông. Ối chao, đau điếng, thầy phóng mình ngay ra khõi lớp, vừa chạy vừa kêu cứu, tông cửa văn phòng Hiệu trưởng kể lể sự tình một hơi. Ban Giám hiệu, giám thị vội vã cấp tốc xuống lớp để thầy lại cho cô Đầm y tá săn sóc vết thương...tâm.

          Phần học sinh trong lớp, chỉ có các em ngồi quanh đó chứng kiến cảnh ấy mà thôi. Riêng thủ phạm thì đang khóc ‘bù lu bù loa’ nghẹn lời, tức tửi trước bạn bè đang nhôn nháo ‘hỏi cung’. Nhưng khi nhìn ra cửa thấy ban điều tra hùng hổ sắp đến, ai về chỗ nấy, trật tự vãn hồi, cả lớp im phăng phắc, nghiêm trọng.

          _  Sao, thành thật kể lại cho thầy nghe chuyện gì xảy ra, từ đầu đến đuôi, thầy Tổng giám thị nói có vẻ trấn an cậu bé.
Vốn có kinh nghiệm và là người địa phương, thầy thông hiểu tâm lý, thái độ học sinh quê nhà rành rẽ. Có khi thầy còn biết cả gốc gác gia cảnh, thành phần xã hội nữa nên chỉ cần nhìn qua loa thôi, thầy có thể đoán được phần nào tình trạng lành dữ, ngay gian. Chỉ chờ câu hỏi là cậu bé không nén được nữa, oà khóc nước mắt ràng rụa kể lại sự kiện xảy ra như trên, phân bua cặn kẽ :
- Con tưởng lông giả thầy gắn vô chơi nên con ngắt thử, không dè lông cứng quá, giựt ra làm thầy đau. Con có ý xin phép thầy mà không biết tiếng, khi con rờ tay thầy, thầy nhìn con cười cười, con đinh ninh thầy cho phép, con mừng quýnh giật nhanh, thì ra... là lông thiệt.’’
Câu trả lời thật thà khờ khạo làm cho ai nấy muốn cười lăn mà đành nín lặng, ho hen đằng hắng, cười bằng bụng mà thôi.
- Con có lỗi đó. Trưởng lớp cùng đi lên Văn phòng ngay.

    Rồi mọi hiểu lầm được giàn xếp xong xuôi. Tội phạm dưới sự chứng kiến của Ban giám hiệu, lớp trưởng, xin lỗi thầy dung thứ. Nề nếp trở lại như xưa. Nhưng không bao lâu, có lẽ vì khí hậu Gòcông không thích hợp với người Mỹ, phương pháp dạy thực tiễn nhưng khó áp dụng với sĩ số quá cao, các thầy cô trong chương trình Chí nguyện giả từ Gòcông với kỷ niệm khó phai.

          Nhất con ! Đây là một vài kỷ niệm thân thương dưới mái trường Trung học Gò công, nơi mà mẹ đã mang bầu ba đứa con vào lớp và nơi mà các con đã được bác chú cô dì giáo chức, anh chị học sinh chia vui với bố mẹ khi các con chào đời ở quê mình. Tiếc rằng các con không có dịp thụ hưởng nền giáo dục ở ngôi trường quê hương nầy để bố mẹ có thể tâm tình gợi nhớ gợi thương. Tuy nhiên kỷ niệm vui buồn nào bao giờ cũng đẹp với tháng năm qua, ấp ủ dư âm, trui rèn kinh nghiệm. Mẹ không bao giờ hối tiếc đã chọn và sống với nghề dạy học dù ngày nay nhan nhản bao buồn phiền bi kịch xảy ra, vì trái phải cuộc đời là chuyện tất nhiên, nghề nào cũng thế.

 Nhưng dù sao nghề thầy vẫn có ưu thế hơn vì luôn được tiếp cận với tuổi trẻ, tự cố gắng trau dồi học hỏi để thích nghi và đặc biệt là chứng nhân âm thầm, xa gần thành quả của thế hệ tương lai. Không gì làm thầy cô vui sướng, hãnh diện ngầm cho bằng nghe danh học sinh cũ của trường thành công và ngược lại thương tiếc khó nguôi cho lá vàng còn đó mà lá xanh đã lìa cành.

Bây giờ, quá khứ đã về hưu, quê hương xa vời vợi, nhưng lòng người còn vương mãi hoài niệm ngày xưa. Những trang giấy sau cùng của quyển sách đời dạy học, dù đã ngã màu vàng theo năm tháng, luôn luôn vẫn còn được chấm phá bằng những nét son hạnh phúc hình ảnh của bao vì sao sáng hay đóa hoa tươi đẹp, tin vui đồng nghiệp hay lớp lớp học sinh reo vang tiếng hát ca tụng tình người rạng ngời vinh dự quê hương.
                                                                                                       
                                                                                                     Trần Thành Mỹ   

MÊ TÍN DỊ ĐOAN CẦN LOẠI BỎ



Người viết mạn phép trích dẫn lời giảng giải của sư Thích Diệu Không, nhân kỳ viếng thăm chùa Ba Vàng ngày 27/10/2018 vừa qua với vài bổ túc ý kiến cá nhân nhằm mục đích truyền bá rộng rải trong cộng đồng người Việt khắp thế giới về tệ nạn đốt vàng mã tại Việt Nam hiện nay...

Cuối tháng 10 năm 2018 chúng tôi có dịp viếng thăm chùa Ba Vàng nằm ở phía bắc thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Chùa Ba Vàng (còn gọi là Bảo Quang Tự 寶光寺) là một ngôi chùa nằm trên lưng chừng núi Thành Đẳng, thuộc Phường Quang Trung, Thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời chính xác chùa Ba Vàng được khai sơn từ khi nào. Theo nội dung khắc trên cây hương đá trước cửa chùa thì chùa xưa được dựng vào năm Ất Dậu, triều vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (tức năm 1706) và ngôi chùa lúc đó được gắn liền với tên tuổi Ngài Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác (1659 - 1758). Tuy nhiên, căn cứ vào những dấu tích di chỉ được các nhà khảo cổ thêm thì ngôi chùa còn có thể được xây dựng từ sớm hơn, tức là vào thời Trần thế kỷ thứ 13.

Tuy nhiên chùa xưa chỉ còn là phế tích, để phát huy giá trị văn hóa lịch sử ngôi chùa liên tiếp được đầu tư để bành trướng. Ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ và sau đó năm 1993 chùa được trùng tu lại bằng xi măng. Các thầy ở chùa rất chân tình và thật gần gũi với người hành hương. Người Phật tử có cảm giác như mình được về nhà. Cảnh quan chùa rất nghiêm trang, không có người hành khất hoặc các hàng bán rong làm mất thẩm mỹ cảnh chùa. Bước vào cổng chùa chúng tôi gặp ngay một sư cô và khi ta trò chuyện ít lâu chúng tôi có cảm tưởng như đang nói chuyện với người thân trong gia đình. Cách tổ chức cho những người đi lễ lần đầu như chúng tôi của nhà chùa rất ấn tượng tuyệt vời. Cám ơn các thầy trụ trì. Cám ơn các tăng và cám ơn các đạo tràng đã rất chu đáo cho từng chút của chùa xanh, sạch, đẹp và trang nghiêm. Chúng tôi cầu mong sao đây mãi là ngôi chùa kiểu mẫu của nước Việt Nam. Xin Phật ban sức khoẻ cho các thầy, các tăng và các sư cô.

Chùa rất đẹp và sạch sẽ hiện vẫn còn tiếp tục quá trình xây dựng. Vì chùa nằm trên lưng chừng núi, đứng trên cổng chính có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Uông Bí, chùa được xây dựng hoàn toàn bằng bê tông cốt thép, cơm chay ở chùa rất ngon. Chùa rất đẹp nhất là vào buổi tối. Ở đây điểm đặc biệt là rất thanh tịnh không hàng quán không kinh doanh buôn bán bất cứ cái gì ngay gửi xe cũng miễn phí.

Khác với những ngôi chùa hay đền thờ mà tôi viếng thăm trước đó là việc đốt vàng mã ở nơi đây hầu như không hiện hửu. Cũng như vài ngôi chùa hiếm ở Hà Nội như chùa Trấn Quốc, chùa Bà Đá hay chùa Ba Vàng ở Quảng Ninh có phải yết biển “Không đem vàng mã vào chùa” thì rõ ràng là không ai có thể đồng tình với thói mê tín dị đoan này.
Hàng năm vào những dịp lễ lớn như Tết Nguyên Đán, lễ Thanh Minh, ngày rằm tháng bảy hay lễ Vu Lan để xá tội vong thân, đám giỗ người thân trong gia đình, v.v...người ta hay đốt vàng mã tưởng chừng như một tục lệ bình thường. Nhớ người đã khuất hay thương xót kẻ không còn trên thế gian không những là nét đẹp của văn hóa Việt Nam mà còn là một sự tôn trọng tình người, đề cao nhân nghĩa của người sống. Tuy nhiên vấn đề ở đây là thời gian càng phôi phai thì càng có người lợi dụng, dùng nó như một chiêu bài cho mê tín dị đoan, được lồng vào tín ngưỡng. Từ lâu tín ngưỡng và mê tín thường có ranh giới không rõ rệt, dễ làm nhiều người ngộ nhận nên rất dễ bị lợi dụng làm điều không tốt. Trong đó tục đốt vàng mã là một. Chưa ai chứng minh được rằng có người từ cõi chết trở về. Cũng chưa ai chứng minh được cái áo bằng giấy đốt đi lại thành áo thật. Đến cửa Phật cũng phải bài trừ tục mê tín ấy.

Lúc còn bé tôi đã nghe truyền thuyết dân gian nói rằng “Trần sao Âm vậy” nên chúng ta đốt vàng mã để gửi người âm phủ được dùng; cũng có người nói rằng các tổ tiên đều làm như vậy nên chúng ta bắt chước làm theo cho yên tâm...Hoặc có người vì thấy bà con hàng xóm mua về đốt thì mình cũng phải đốt kẻo bị họ chê trách là mình không thương các cụ. Lại còn có người bảo rằng tại vì con vụng về khấn vái nên phải nhờ vàng mã sớ tâu giùm lên Phật để các ngài thương mới chứng cho...

Như vậy quan điểm nhà Phật về vấn đề này như thế nào nhĩ? Tại sao là như vậy. Chúng tôi tò mò đi tìm các sư trong chùa Ba Vàng để trò chuyện thì được sư Thích Diệu Không giảng giải và được hiểu vấn đề như sau.

Thời thượng cỗ ở TQ cách đây 4 700 năm tức 2 682 năm trước CN, người TQ dùng gỗ để quấn người chết rồi quăng vào rừng cho rả ra. Trong khi đó ở Ấn độ có phong tục thủy tán có nghĩa là liệng người chết xuống sông Hằng hay cho đà điểu ăn gọi là Điểu tán. Một vài bộ tộc bên Ấn độ và TQ thời bấy giờ có tục ướp xác rồi quấn bằng cây gỗ để giữ xác lâu hơn. Cho đến đời vua Hiên Viên, vua nghĩ là dân chúng nên tôn trọng và biết ơn người chết hơn nên cử quan thần nghĩ ra cách làm cái hòm bằng gỗ với 6 miếng. Từ đó người giàu có TQ quan niệm nên biết ơn người đã khuất bằng cách khi liệm xác chết vào hòm, người ta để vào vật khí mà khi còn sống người ấy rất thích như cây vùi, cây đàn, ống sáo, v.v...(minh khí) vào chung hòm với người mất.

Đến đời nhà Hạ tức 2 205 năm trước CN, người ta mới nghĩ thêm việc đải tiệc trước khi an táng người mất. Người ta cũng chôn theo minh khí với người chết để họ có thể xài dưới âm phủ.

Mãi cho đến đời nhà Chu tức 1 211 năm trước CN, người quí phái, quan lại và vua chúa nghĩ ra hủ tục là chôn đồ thật như vàng bạc cùng với người chết. Người bình dân nghèo không có tiền bạc thì phải chôn đồ giả. Một ít lâu sau vua Chu đưa ra chiếu chỉ ra lệnh cho quan lại và nhà quý phái phải chôn theo những gì mà người mất thích ngay cả phu nhân họ, người hầu hay con cái. Cách chôn sống kiểu này quá tàn nhẫn vì người thân có tôi vạ gì mà phải chôn sống chung với người chết. Dần dần hủ tục bị chống đối kịch liệt cho đến thời nhà Đường khoảng 1000 năm trước CN thì người ta phát minh ra giấy. Từ đó người ta mới làm hình nộm để chôn theo người chết tức tục vàng mã bắt đầu từ đấy.

Như vậy rõ ràng việc đốt vàng mã xuất phát từ Trung Quốc cách đây hơn 1000 năm trước CN. Như kể trên, qua các thời vua chúa phong kiến, khi chết vua chúa quan lại người giàu quý phái cho chôn theo mình vàng bạc của cải, kẻ hầu người hạ thậm chí cả vợ con nữa để mong được tiếp tục cuộc sống vương giả ở thế giới bên kia. Việc làm này của tầng lớp vua chúa dần dần lan rộng đến dân chúng và trở thành một tập tục. Song đa số dân chúng đều nghèo khó, lấy đâu ra vàng bạc của cải, kẻ hầu người hạ để chôn theo. Đến đời nhà Đường (1000 năm trước CN) mới có giấy. Từ đó mới nảy sinh ra việc làm hình nhân giấy thế mạng, làm vàng mã thay cho của cải thật. Rồi từ việc phải chọn các thứ đó theo cũng có nhiều phiền phức lại hao tốn đất đai canh tác mới dần chuyển sang hình thức đốt hóa vàng mã cho người đã mất với niềm tin rằng họ sẽ hưởng dùng được những thứ đó bên kia thế giới. Song thật sự họ có dùng được những thứ này hay không?. Như chúng ta đã biết dù chôn theo vàng bạc của cải thật thì khi khai mộ cải táng, thấy rõ các đồ vật này đâu vẫn hoàn đấy, có chăng thì chúng bị hư mòn bởi thời gian mà thôi, chứ đâu phải do người chết lấy tiêu dùng. Của cải thật mà còn như vậy huống chi là đồ mã lại còn đem đốt hóa thành tro tàn mây khói. Khi vô lý hơn là chúng ta đem đốt xe ô tô, xe máy, tủ lạnh hay tivi...để cho người mất dùng, song họ sẽ dùng thế nào đây? Chúng ta đốt ô tô xe máy mà chẳng đốt xăng dầu, đốt tivi, tủ lạnh mà không đốt điện xuống âm phủ thì thử hỏi làm sao họ có thể dùng được chăng? Nếu bảo trần sao âm vậy thì thì ta phải làm đầy đủ các thứ đó mới được. Lại còn một thực tế nữa là ông bà tổ tiên chúng ta xưa kia đi chân đất guốc mộc, ngồi xe ngựa, xe trâu nên xe đạp có khi còn chưa biết lái huống nữa là xe ô tô, xe Honda Dream...Do đó nếu muốn thì chúng ta phải đốt thêm sách hướng dẫn sử dụng, bộ luật giao thông và cả bằng lái xe nữa chứ. Nói như vậy chứ nếu chúng ta thực sự làm tất cả thứ này thì mấy nhà làm hàng mã mà nghe được sẽ làm giàu to. Có thể họ sẽ tiếp tục làm thêm ra đủ các thứ lệ bộ nói trên và yêu cầu bà con phải mua cho đủ mới được. Như vậy thì chúng ta sẽ bị mắc lừa to bởi chúng ta sẽ bị mắc lừa bởi các nhà sản xuất hàng mã rồi. Và buồn hơn là chính chúng ta tự lừa dối chúng ta bởi cái tư tưởng trần sao âm vậy đó...

Thứ hai là việc đốt tiền âm phủ. Việc này còn phi lý hơn cả việc đốt mã nói trên nữa. Thực tế thì trên thế gian này nước nào thì dùng tiền tệ hợp lệ in ra bởi chính phủ của quốc gia đó mới gọi là tiền hợp pháp. Vậy thì tiền chúng ta in ra trên trần gian phát hành xuống âm phủ là hơp pháp hay sao. Lỡ tiền chúng ta in ra chẳng đúng với tiền âm phủ thì ông bà chúng ta sẽ bị vi phạm luật pháp âm phủ vì tội tiêu tiền giả phải không? Còn nếu hàng năm quả thật vua Diêm vương có lên trần gian vào từng nhà sản xuất làm vàng mã đặt in tiền cho âm phủ thì chúng ta khả dĩ tin được việc này. Song chúng ta tin chắc chẳng có ông chủ hàng mã nào được vua Diêm Vương đến nhà đặt in tiền cả. Trên thực tế các nhà sản xuất vàng mã đều tùy theo thị trường mà họ in ấn. Ngày xưa đồng tiền âm phủ có in hình vua Diêm Vương mặc dù họ chẳng bao giờ biết mặt ông Diêm Vương ra sao cả. Gần đây khi nền kinh tế mở cửa, thấy đồng đô la có giá trị thì họ đổ xô vào in tiền đô la âm phủ và tức cười nhất là đồng tiền không in hình vua Diêm Vương mà lại in hình ông tổng thống Mỹ mới chết chứ? Chưa biết chừng sắp tới họ sẽ in tiền bảng Anh với hình Nữ Hoàng hay tiền Euro để bán cho bà con nữa đấy. Trong khi đó ở ngay các nước khác người dân không có tục đốt vàng mã thì không biết thân nhân họ tiêu bằng tiền gì hay họ phải chịu mình trần nhịn đói hoặc sang nước khác để làm thuê cho ông bà tổ tiên chúng ta hay sao?. Điều này chúng ta thấy quá phi lý?

Theo sách cỗ Trung Quốc - Pháp Uyển Châu Lâm có ghi: ”Từ trước đời Hậu Hán trong việc tang ma vẫn dùng tiền bạc thật để chôn theo người chết. Đến đời Đường, ông Vương Dũ đã nghĩ ra cách dùng tiền bạc bằng giấy để thay thế. Nghề làm vàng mã đã có một thời phát triển rất mạnh, song không bao lâu người Trung Hoa lại có ý chán bỏ vì chẳng thấy hiệu nghiệm gì cả.  Vì vậy nghề nghiệp của Vương Dũ có phần mai một. Bởi thế nên con cháu của Vương Dũ cố hết sức tìm mưu kế để chấn hưng lại nghề làm vàng mã của mình. Sách Trực Ngôn Cảnh chép rằng: ” Ông Vương Luân là con cháu của Vương Dũ thời vua Ấn Đế nhà Hán đã lập mưu bằng cách bảo người bạn thân của mình giả chết. Chừng vài bữa sau ông loan tin người bạn thân đó đau bệnh đã chết. Sau đó ông lén liệm người bạn vào quan tài (quan tài có lỗ trống để bạn ông thở được). Đến ngày làm lễ đi chôn, ông Vương Luân tổ chức nhạc lễ linh đình, phúng tiếu nhộn nhịp, lại làm một hình nhân thế mạng cùng những đồ vàng mã như tiền vàng, nhà cửa, quần áo...Ông Vương Luân tự làm lễ để cầu cho người bạn được sống lại. Cúng tế xong đốt hết vàng mã, giấy tiền, hình nhân thế mạng thì linh nghiệm thay quan tài tự nhiên rung động, ai nấy đều mục kích sự kiện rõ ràng, vội cùng nhau mở nắp quan tài. Người bạn thân của Vương Luân quả sống lại được. Anh ta liền đến trước mặt Vương Luân phủ phục xuống đất và thuật lại chuyện cho công chúng nghe rằng ”Chư vị Âm Thần đã nhận được vàng mã và hình nhân thế mạng liền thả hồn về dương thế nên nay tôi được sống lại cũng nhờ ông Vương Luân đốt vàng mã và hình nhân thế mạng”. Mọi người ai cũng đều tin đây là sự thật nên đồ mã của Vương Luân từ đó hưng thịnh trở lại. Sau này do tranh chấp quyền lợi nên chính người bạn của Vương Luân đã tiết lộ âm mưu xảo trá đó của Vương Luân”. Nước Việt Nam chúng ta dưới ách đô hộ phong kiến phương Bắc cả ngàn năm nên những hủ tục này cũng dần dần ăn sâu vào quần chúng nhân dân. Tệ hơn nữa một số người hành nghề mê tín dị đoan như ông đồng bà cốt, đã kết hợp với những người cung cấp vàng mã lợi dụng lòng tin của mọi người, giả nói lời của thần linh, vong linh đòi hỏi phải đốt vàng mã càng khiến cho bà con chúng ta chìm sâu vào tục lệ này.

Cũng theo sư Thích Thích Diệu Không thì giáo lý đạo Phật tuyệt đối không có chuyện đốt vàng mã cho người đã chết. Kinh điển Phật có dạy rằng: Một người bình thường chúng ta sau khi đã chết rồi, trong vòng 49 ngày thần thức phải đi tái sinh vào một trong 6 cõi. Ba cõi trên là cõi Trời/cõi Phật, cõi Người và cõi Thần Atula; còn 3 cõi dưới là Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sinh (động vật). Hai cõi Trời và Thần Atula thì không dùng đến tiền bạc vì do phước báu nhiều nên họ nghĩ thứ gì liền có thứ ấy hiện ra... Hai cõi Ngã quỷ và Địa Ngục thì luôn bị hành hạ khổ sở chẳng thể có thì giờ nghỉ ngơi để mà có thể lái xe ô tô và ra ngân hàng lãnh tiền từ dương gian gửi xuống được. Nếu như phải tái sinh vào loài súc sinh (như heo lợn, gà chó chẳng hạn...) thì sau khi đó chúng ta có thấy chú lợn heo nào mặc áo hay cưỡi xe máy Honda đi chơi đâu. Còn nếu tái sinh trở lại làm người thì chúng ta biết rõ là chưa từng có ai nhận được số vàng mã mà người ta đốt cho mình cả. Sự thật thì mỗi cảnh giới của mỗi loài một khác, tùy theo nghiệp thức biến hiện. Chẳng hạn loài người thở bằng không khí, loài cá thở dưới nước, các vị Trời thấy nước là ngọc lưu ly, Ngã quỷ thấy nước là than hồng rực đỏ cháy thiêu đốt mình. Do đó chúng ta không lấy cảnh giới của loài người mà áp đặt rằng các cảnh giới khác cũng phải như vậy. Cho nên câu nói “Trần sao Âm vậy” chẳng thể đúng với lời Phật dạy. Theo các Kinh Địa Tạng, Vu Lan, Kinh A Di Đà, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, muốn giúp cho người đã khuất siêu sinh về thế giới an lành, kẻ còn phúc lạc thì những người còn sống nên làm những việc như đến chùa thiết trai cúng dường chư Tăng, cúng dường Tam bảo, in Kinh sách băng đĩa Phật Giáo, bố thí cho kẻ nghèo khó, không sát sinh để cúng tế mà nên mua vật về phóng sinh, tu tập tụng kinh và làm các việc công đức...rồi đem những công đức đó hồi hướng cho những người đã mất thì chắc chắn họ sẽ được hưởng, tiêu trừ nghiệp chướng, được tái sinh vào cõi lành hoặc có thể siêu sinh về Tây phương Cực lạc. Còn việc đốt giấy vàng mã thì không thể giúp ích gì cho thân nhân và cho chính chúng ta được.

Ngày nay tại trong nước người ta đã đi quá đà gây lãng phí lớn, có nhà giàu xổi phất lên nhanh, ngày rằm tháng bảy, đặt hàng mã cả xe Honda Dream, tủ lạnh, tivi màu, và tiêu hàng triệu đồng để đốt đi không biết bao nhiêu giấy tốt. Tại phố cỗ Hà Nội vẫn còn phố hàng mã. Theo nhẫm tính không chính xác thì mỗi năm số hàng mã bị đốt lên đến hàng trăm tấn trên toàn nước Việt Nam trong khi các vùng xa xôi còn thiếu đói, các em bé không có giấy sách vở để viết, để đến trường học hành. Không những thế việc đốt vàng mã còn gây ô nhiễm môi trường, làm xấu đi cảnh quan chốn thờ tự trang nghiêm thanh tịnh và có một số nơi ở Việt Nam đã gây ra hỏa hoạn. Đây là điều hiển nhiên vô lý khó chấp nhận.

Gia đình nào mà chẳng có những người quá cố, dù mất đã lâu hay mới đây. Gia đình nào cũng có bàn thờ với bát nhang nghi ngút. Ngay Công giáo cũng có bàn thờ của Công giáo. Tục thờ cúng tổ tiên rõ ràng là một văn hóa truyền thống đẹp, thể hiện tâm hồn người Việt tôn trọng văn hóa, tôn kính cội nguồn. Ngày Tết, rằm tháng bảy, cầu nguyện cho các linh hồn được siêu thoát vẫn là nét đẹp. Tương tự như lễ Thanh Minh hay tảo mộ, ngày giỗ thắp hương để con cháu có dịp tưởng nhớ đến ông bà. Chỉ riêng chuyện lấy ngày này làm cái cớ mà thực hiện hành động mê tín như gọi hồn, đốt vàng mã vô tội vạ...thì không còn là lãnh vực tâm linh nữa mà đã trở thành mê tín dị đoan cần được chỉnh sửa.

Văn hóa vốn rất đa dạng, có vật thể và phi vật thể. Chúng ta cũng luôn tôn trọng mọi tín ngưỡng khác nhau. Nhưng sống trong thời đại khoa học kỹ thuật khó mà chấp nhận những điều phi lý nhân danh tâm linh được. Đứng về khía cạnh kinh tế cũng vậy, gia đình còn thiếu thốn nhiều thứ, xã hội cần tiết kiệm, bỗng dưng đốt đi bao nhiêu tiền của, giấy má đáng quý cũng khó mà đồng tình cho được.

Một nén nhang, một bông hoa nhớ đến người xưa, đó chính là văn hóa, là điều chúng ta tâm niệm về cội nguồn, về quá khứ về những công đức sinh thành ra ta và cả giống nòi Việt Nam. Vì vậy mà cần dẹp bỏ điều mê tín không đẹp, không phù hợp nữa...

Năm Mậu Tuất sắp qua đi và năm mới sắp đến, xin chúc bà con chúng ta được nhiều may mắn, sức khỏe, an vui và hạnh phúc.

Nguyễn Hồng Phúc
December 2018

MỘT THUỞ BÌNH YÊN


                              


                                         (Nội dung ghi lại hình ảnh thanh bình
 nơi quê tôi vào khoản 1955-56) – Hoài Việt
                                     
Bao năm lưu lạc xứ người
                    Tuổi đời nay đã bảy ngoài . . , nhưng sao
                              Tưởng như chỉ mới hôm nào,
                    Tuổi còn nhỏ dại, mới vào lớp ba
                              Ngày ngày kề cận mẹ cha
                    Cùng có đầy đủ ông bà thật vui.
                              Biết bao kỷ niệm ấu thời,
                    Quê hương êm ả, một đời ấm no
                              Nhà tôi bồ lúa thiệt to,
                    Cuối mùa lúa chín chỉ lo gặt về
                              Sớm chiều trên nẻo đường quê
                    Bà con chòm xóm, đi về cười vui      
                              Tôi thường bơi xuồng rong chơi,
Dưới hàng thủy liễu, lả lơi mượt mà(1)
          Vào mùa cây ấy trổ hoa
Sắc màu tím nhạt, sao mà dễ thương!
          Dân quê gọi nó trái bần
Cặp với mắm sống, thôi... ăn đả đời!
          Muốn đổ bánh xèo có rồi
Cây vừng,cây chiết mọc dài theo sông(2)
          Cuối năm vào mùa cá đồng,
Trên ruộng đổ xuống khắp cùng mọi nơi.
          Cá ục tợ như cơm sôi,
Lóc, trê vàng nghính, mập thôi quá chừng
          Cá đối, cá ngát, cá lăng
Tôm càng to bự cở chừng cườm tay
          Ông tôi thường hay “đưa cay”(3)
Cho khoẻ gân cốt sau ngày nắng mưa
          Cuối năm cũng chính là mùa
Làm lễ cưới hỏi rước đưa dâu hiền.
          Cả xóm vui mấy ngày liền
Đốn cây đủng đỉnh, giăng đèn kết hoa(4)
          Mổ heo cùng với vịt gà
Cùng nhau ăn uống như là bà con.
          Tục xưa ngày ấy vẫn còn,
Cúng đình hát bội, diễn tuồng tích xưa
          Kết cuộc “kẻ ác phải thua,
Phu-thê, sư-đệ, tôi-vua phải tròn”.(5)
          Ngày Tết còn gì vui hơn,
Cả nhà tề tựu bên bàn mâm cao
          Ông tôi kính cẩn mời chào
Cửu huyền thất tổ, cùng nhau sum vầy...
          Thu nầy tôi vẫn ngồi đây,
Lòng sao nặng trĩu, đong đầy niềm đau
          Một thuở bình yên còn đâu,
Chỉ là kỷ niệm đi vào hư vô
          Ông bà, ba má tôi giờ
Đã đi biền biệt, lòng ngơ ngẩn buồn (6)

(1)-Cây bần là loại cây tạp, cao khoản 10-20 thước, lá hình như lá liễu, mộng nước, thường mọc dọc theo sông vùng nước mặn.Dân tôi gọi là cây bần,nhưng nghe đâu  vua Gia Long lúc còn chạy loạn, thấy cây nầy lại đặt cho cái tên là “thủy liễu”.

(2)-Cây vừng ,cây chiết cũng thường mọc dọc theo bờ sông.Lá non của 2 giống cây nầy có vị chua chua chát chát,dùng gói ăn với bánh xèo là ngon vô cùng.

(3)- Đưa cay là tiếng dân quê miền Nam chúng tôi, dùng để chỉ “lai rai chút rượu ba xi đế”.

(4)- Vào thời xưa ấy, cô bác trong xóm làng thương yêu hoà thuận nhau, qua lại giúp đỡ khi làm mùa hay lễ lạc.Trong xóm có đám cưới là xúm nhau tiếp, người ta thường đốn cây đủng đỉnh, có chùm bông to,dùng cả cây chuối, tàu dừa. . .  để trang hoàng thành cái “rạp”,rồi trai gái cùng lo tiếp mổ heo gà, ăn uống vui chơi, lo đón mừng cô dâu chú rễ, bà con hai họ.

(5)- Vào thời nầy, vẫn còn tục cúng đình, và sau khi cúng tế là hát bội.Tuồng tích thì nào”Quan Công Phò Nhị Tẩu, Chung Vô Diệm, Tiết Đinh San Cầu Phàn Lê Huê. . v. .v. .. Kết cuộc là luôn đề cao gương trung trinh tiết liệt, giữ gìn nghĩa chúa tôi, phu thê.

(6)- Một chút tâm tình riêng tư, từ bao chục năm qua, ông bà cha mẹ đã ra đi, nhưng hầu như không lúc nào hình bóng phai nhạt trong tim tôi.

Đã trên 65 năm trôi qua, nhớ lại “một thuở bình yên” mà lòng luống quặn đau. Ngày ấy, tôi khoản 10 tuổi, sống yên ấm trong cảnh thanh bình, đoàn tụ. . .Nào ngờ, sau đó chiến cuộc tràn lan,và ngày nay hình ảnh thanh bình chẳng còn đâu. Thôi thì,  chúng ta hãy cầu nguyện , hãy mơ uớc rồi sẽ có một ngày.
           Rất mong được chia xẻ . . Hoài Việt.ngày 2/tháng 12/2018

         



 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual