HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

TÊN CÚNG CƠM



Cây thì là

Theo chuyện cổ tích thời xưa ông bà kể lại là: Ngày xửa ngày xưa, thuở thời tạo thiên lập địa, cây cỏ đều có tên, riêng một cây không biết mình tên gì, bèn lên tấu trình Ngọc Hoàng xin danh tánh.

Quì gối trước Thiên Nhan định trần tình, Ngọc Hoàng phán hỏi:" Ngươi tên chi?". Ấp úng thưa: "Muôn tâu, thì là..".Chưa dứt lời, Trời bảo:" Thì Là, hãy bình thân." . Thế là cây Thì Là từ đấy chính thức có tên trong “Sổ Bộ Đời” loài thảo mộc .

Riêng con người, tạo vật tinh vi siêu đẳng nhất, từ lúc còn là bào thai, cha mẹ đã hăm hở bắt đầu tìm đặt tên con theo qui lệ nước mình.

Dân ta có khuynh hướng cho rằng tên ảnh hưởng đến vận mệnh cả đời nên rất cẩn trọng trong việc đặt tên con. Thêm vào đấy, do ảnh hưởng chính trị, tôn giáo, địa thế, Việt Nam trở thành nơi gặp gỡ, hoán chuyển trào lưu tư tưởng, văn hóa..., quốc tế. Vì thế tên cũng theo đà tiến bộ văn minh trở nên dồi dào, tự do.

Tiếng Việt đơn âm có dấu, hầu hết các từ đều có nghĩa lại thêm Nho học bàng bạc thẩm thấu trong văn chương, bao nguyên nhân đó cũng đủ làm trở ngại hay phong phú hóa việc đóng dấu ấn con người.

Khi khai sinh, xin cẩn thận kiểm lại tên con trẻ, nếu không, có khi các ngài Chánh lục bộ vì vô tình thói quen quên bẳng hay đổi ngay dấu nét, tên cả đời rõ thắm thía đắng cay!  Như chữ
"R" (rờ) thành "D"(dê), “dâu”  thành “ râu”
Y dài thay I  ngắn, “thúy” thành “thúi”,
chữ "giai" mà thêm chơi dấu sắc, giai thành”giái”
“CH”(chờ) đọc “TR”(trờ) "châu" hành "trâu" quả thật là … hết ý!

Chẳng những thế, theo cổ tục còn cử tên kỵ húy, tên không được trùng với danh tánh ông bà và ngay cả hàng xóm vì "bà con xa không bằng láng giềng gần".

Tên cúng cơm thường chỉ được sử dụng trên giấy tờ, luật pháp, nhất là ở miền Nam, nên chỉ gọi nhau bằng thứ mà thôi. Cả xóm làng toàn là chị hai, cô ba, bác tư, chú tám..

Và có lẽ để phân biệt dễ dàng âm thầm thêm "rờ mọt" (remorque) vào thứ tạo tên riêng hay hổn danh theo tướng, tật, thói quen, âm vận, nghề nghiệp... Người Pháp có Louis Le Grand ta chẳng kém nào Hai Hòn, Ba Xạo, Tư Xệ, Năm Lùn, Sáu Lé, Bảy Cao, Chín Niểng, Mười Ù,..

Tên Việt ta thường gồm ba chữ: họ, chữ lót, tên.
Quan niệm cổ truyền, "nam nữ thụ thụ bất thân" nên Lục Vân Tiên sau khi giải cứu Kiều Nguyệt Nga đã nói :
’Khoan khoan ngồi đó chớ ra, 
   Đó là phận gái đây là phận trai.’’           
có thể cũng ảnh hưởng đến việc đặt tên con, Nam Văn, Nữ Thị, chữ lót hầu phân biệt gái trai. 


      Bìa hai tập Lục Vân Tiên cổ tích truyện có tranh minh họa, EFEO, Paris.RFI / Tiếng Việt

Rồi dần dần để theo kịp trào lưu tiến hóa, tên cũng biết hòa đồng bình đẳng. Tên loài hoa như Hồng, Lan... không còn ưu tiên độc quyền cho giới quần thoa như Phương Trang Nhất không đặc biệt dành riêng cho nữ hay nam. Tên cũng "unisex" không phân biệt gái trai như quần "Jean", giày "Nai kì"(Nike) thể tháo...

Mỗi thứ tiếng đều chuyển mình dũa mài biến đổi, tên cũng theo thời trau chuốt đẹp sang hơn. Bay bướm hơn, phóng khoáng hơn, cách đặt tên không còn gò bó nữa, không màng "văn thị", Căn bản ba chữ được du di dài ngắn, ảnh hưởng ngoại quốc nên hai họ cha mẹ cũng được ghép liền vào trước tên con.
Trần Lý
Trần Thành Mỹ
Trịnh quang Mỹ Phương
 Phạm Trịnh Quang Liêm

Phải theo thời mới "síc" không quê, báo hại lắm lúc, đầu trên xóm dưới, trẻ con trùng tên chỉ khác nhau chữ lót. Tinh thần đoàn kết quả được nâng cao, mạng lưới tên được giăng ra làm sờn lòng bao kẻ địch. Đừng cắt cớ lượn qua nhà người đẹp gọi tên em, chẳng những khó thấy em mà toàn thấy anh của em mới sợ !

Ngày xưa, có thể vì mê tín dị đoan, sợ "ông bà quở", nên đặt tên cho con “xấu háy” hoặc tên khác kêu riêng như Tửng, Cu Tèo, Thị Mẹt,..Ngày nay, để gọi tưng "cục cưng" con, cha mẹ thường dùng danh từ hoa mỹ dễ thưong hơn như Tú ti, Cà Na, Thiện, Mạnh.. hoặc "trí thức" hơn vay mượn nước ngoài "Rĩ" (Marie ), “Ri"(Henri),“Răng“(Jean),"Rắc"(Jacques )...ngộ nghĩnh vui tay ghê!

Rắc rối và buồn cười nhất là việc cử tên, chẳng những không được đặt trùng mà còn đọc trại. Ví dụ tên ‘Đồ’ đọc trại ra là ‘Đà’, đồ đạc thành đà đạc, đồng hồ ra đồng giờ, “nghĩa “thành ngãi, “hoa “ thành huê. Thời quân chủ chuyên chế, trong thi cử cấm phạm húy, viết trúng tên hoàng tộc chẳng những bị đánh rớt mà có khi còn bị tru di . Dần dần những từ biến dạng ấy trở thành thổ ngữ địa phương.

Ngoài ra, tên đẹp hay chưa đủ còn tùy thuộc cách phát âm của miền, vùng, địa phương. Như thế là có khi nghĩ đúng, làm đúng, vẫn sai. Ý đẹp, viết đúng, đọc sai, tai hại! Một ví dụ tên Long Các đẹp thế, mà gặp phải người miền Trung xướng lên thì lắm lúc cũng cười ra nước mắt!

Tiếng Việt ta thâm thúy thật, vậy mà đôi khi nghe ra cũng "ngậm đắng nuốt cay thế nào"! Do đó, các dấu tượng trưng cho nốt nhạc âm hưởng cũng chiếm phần quan trọng trong việc tạo sắc thái, tính truyền cảm đặc biệt. Vậy viết, đọc phải rõ ràng, nếu không, nhầm lẫn, hiểu sai, như 
                                          "Chữ tài liền với chữ tai một vần".

Chẳng hạn khi nghe đọc câu : con cop cham cham xuong hang, có thể nghĩ ra hai cách viết: con cọp …”chấm chấm” xuống hàng, hoặc con cọp “chầm chậm” xuống hang.

Ngày nay, để hội nhập với đời sống nước ngoài, tiếng Việt thường được viết không dấu. Tên Việt cũng thế, nếu không biết trước thật khó lòng mà đọc đúng, như « Ngũ Tử Tư “ viết không dấu có thể đoc ra là “ Ngu Tự Tử“, “Ngũ tự Tư” và bao hiểu lầm thắc mắc trật đường rầy xảy ra như "Cụ" trơn tru thành "Cu", "Ngũ" quên ngã ra "Ngu"...lỡ khóc lỡ cười !
       
Nhớ lại đọc “một chuyện tiếu lâm” trên báo : Một du khách Mỹ thấy hàng chữ CAM DAI BAY được viết trên tường hoặc trên tấm bảng được treo ở nhiều nơi trong thành phố lớn, vị khách tò mò nầy mới hỏi hảng du lịch: “Ở Việt nam tôi đã thăm Nha Trang Bay, Ha Long Bay, Cam Ranh Bay còn Cam Dai Bay nầy ở đâu mà tôi thấy quảng cáo nhiều thế vậy?”. Ngẩn ngơ! Vì thật ra ba chữ viết không dấu đó là “CẤM ĐÁI BẬY “

Ngoài ra, xin nên hạn chế viết tắt tên người gởi trên bao thư chẳng hạn. Vì phần lớn mẫu tự ta thường đuợc phiên âm hai cách, như chữ T đọc là tê, tờ, nếu không biết, người xướng lên có cơ … á khẩu, người nghe lắm lúc nghẹt thở thộn người. Ví dụ
        Người gởi viết: NBM; Người nhận đọc: Anh Bê Em
        Người gởi viết :TQN;  Người nhận đọc: Tê Cu Anh

Hơn thế nữa, dân ta vốn thích khôi hài thường hay nói lái, lối đá giò lái "tuyệt cú mèo", chưởng phong khó đở, chất xúc tác biến mặt đổi màu nhanh chóng, trắng thành xanh đỏ, đen ra trắng bệch xám ngắt như tờ. Tên có ý nghĩa như ‘’Công’’,"Đức","Nhứt", "Thái", « Đạo », .. chỉ cần thêm chữ đúng vận "hạp nhãn" đứng kề nh ư ‘’công ngủ’’, đệ "nhứt cấp", trà "Thái đức", « Đạo cụ », « Đạo dụ «, « Du ca « là phản ứng xảy ra ngay!

Bạn có thấy tiếng mình sao mà tinh tế lạ, tổ tiên ta thông minh tiến bộ biết dường nào! Bao nhiêu lần bị xâm lăng lệ thuộc, tiếng vẫn còn trau chuốt đẹp hay hơn. Tên ngày cũ « An nam » lưu niệm, "Việt Nam" nay bốn biển biết uy danh !

Vốn đã trót sinh trên trần thế, xin giữ tròn tên tuổi với quê hương. Gắng tiếp nối giống dòng Hồng Lạc, tên ta còn nước ắt mãi tồn vinh.
                                                              Cô Trần Thành Mỹ


SÀI GÒN MÃI TRONG TÔI


                                                     
                                         Tôi luôn mãi nhớ Sài gòn
                              Bốn mươi năm lẻ, mãi còn trong tôi
                                         “Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi”(1)
                              Viễn Đông Hòn Ngọc, bao lời ngợi khen
                                         Dù nay đã bị đổi tên
                              Hình ảnh xưa ấy mãi bên cõi lòng
                                         Bến Thành buôn bán vẫn đông?
                              Thủ Thiêm đò cũ, kia sông ai chờ
                                        

                                                    Bến Bạch Đằng (nhìn từ phía Thủ Thiêm) hình năm 2015

Qua Gia Định, đến đền thờ
                              Lăng ông kính viếng,sau là xin xâm
                                         Biểu tượng văn hoá miền Nam
                              Từ ngày mở cõi, ba trăm năm rồi
                                         Bạch Đằng vẫn khách dạo chơi,
                              Nhìn tàu rời bến bồi hồi nhớ ai.
                                         Bảy lăm cũng tại nơi nầy
                              Ra đi bao kẻ chết ngoài biển khơi!
                                         Tôi còn nhớ mãi một nơi
                              Trước nhà quốc hội, một người nằm đây.
                                         Quân phục, áo mão, cân đai
                              Hiên ngang tuẩn tiết, trưa ngày tang chung
                                         Người, Trung Tá NGUYỄN VĂN LONG.
                              Sử sanh ghi dậm tên ông muôn đời
                                         Nhớ đường Thống Nhứt là nơi
                              Có dinh Độc Lập, một thời không xa
                                         Quyền uy chánh thể Cộng Hoà
                              Nay thành quá khứ, khiến ta ngậm ngùi




                                         Dinh Độc Lập(Phủ Tổng ThốngVNCH) trên đại lộ Thống Nhứt.



(Hình Tổng Thống VNCH lái máy cày nhân ngày ban hành luật N.C.C.R)
Việt Nam Cộng Hoà luôn lo cho dân, đặc biệt thành phần nông dân. Luật  N.C.C.R thật hợp tình hợp lý, dân làm chủ ruộng do mình canh tác, chủ
 điền được bồi thường hợp lý


Sài gòn ơi, ta đã mất người. .
                                         Như người đã mất tên. . .“(3)
                                         Lời ca thống thiết buồn tênh
                              Như lưỡi dao nhọn xoáy tim mọi người

                                                                                          
                                        

                                                           Chợ Bến Thành, biểu tượng đô thành Sài gòn





Hình chiếc trực thăng đang trên bầu trời Sài gòn trước năm 1975.
Trong muôn ngàn hình ảnh, có lẽ chiếc trực thăng là điển hình
 ghi dấu”một thời chinh chiến”. Dù chiến tranh khốc liệt đang diễn ra
ác liệt, Sài gòn vẫn bình yên,phát triển. . .

Sài gòn ơi, Sài gòn ơi
                              Thủ đô yêu dấu cuả người Việt Nam
                                         Giờ đây, sau mấy mươi năm
                              Trở về thăm lại, tôi lầm lũi đi


                                         Tên đường nghe cũng lạ kỳ
                              Và trong giọng nói, có gì khác xa(4)
                                         Trang sử dù đã lật qua
                              Hình ảnh xưa ấy,chẳng nhoà trong tôi
                                         Sài gòn ơi, Sài gòn ơi ! ! !
                                                                                 Hoài Việt
(1) Câu trong bài hát của Y Vân
(2) Quá nhiều bài viết về các vị tướng tá , sĩ quan và cả binh sĩ của Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng tuẩn tiết vào ngày 30/4/1975,nhiều đơn vị  cùng ôm nhau, mở lựu đạn tự sát tập thể. Ôi, hào hùng dường bao. . . Riêng hình ảnh  Trung Tá Nguyễn văn Long tuẩn tiết trước trụ sở quốc hội VNCH thật vô cùng thánh thiện, hào hùng. Thân xác ông nằm yên, ngay ngắn đã nói lên sự bình thản thật vô cùng. Và đặc biệt, tại Tỉnh Ba Xuyên.

Vào ngày đau buồn,ngày tang chung của chúng ta, một chiến sĩ VNCH đã  cố  thủ  trong chi khu và  hiên ngang tuẩn tiết, đó là Thiếu Tá Đổ văn Phát,Quận Trưởng Thạnh Trị. Tên vị anh hùng được ghi trong Bia Tưởng Niệm (tại khu Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ , Quận Cam,miền nam California,Hoa Kỳ). 
Đồng hương của ĐỒNG HƯƠNG xin hãy một lần ghé thăm
                                                                                                                               
(3)Câu trong bài “Sàigòn Vĩnh Biệt” của Nhạc sĩ Nam Lộc
(4)- Sài gòn giờ người củ không còn mấy mươi, mà hầu hết là. . . BK 75 với giọng nói khá xa lạ.   


                                        



ANH VÀ TÔI



         Trên góc phố, một “hình hài” đứng đấy
            Còm cỏi yếu gầy, cụt cả hai tay
            TÔI dừng lại,nhét vội  tờ giấy bạc
            Xong quay đi, chưa biết nói gì đây.
                                                           Sau phút nghĩ suy,TÔI quay trở lại
                                                           Lòng ngờ ngợ đoán chừng ANH là ai
                                                           Nguyên nhân nào mà hai tay bị mất
                                                           Và giờ đây thành một kẻ ăn mày?
            TÔI vịn vai,ngại ngùng chưa vội hỏi
            ANH bậm môi, mắt đờ đẩn xa xôi
            Khẻ hỏi nhỏ: “ phải là người thời trước”
            TÔI gật đầu: “ đúng là đồng đội rồi”
                                                          Ngước nhìn lên,ANH gượng cười mếu máo
                                                           Hỏi bâng quơ:” giờ ANH ở xứ nào”
                                                           “Từ Mỹ  về”, TÔI gật đầu khẻ đáp
                                                           Cùng bậm môi,cố nén chặt niềm đau.

           


TÔI liền móc vội ra bao thuốc lá
            Rút một điếu và đưa tận môi ANH
            Bật que diêm kề sát gần châm lửa
            “Hút đi ANH”, phần còn lại để dành
                                                          Cuộc chiến tàn, mình cũng giống nhau thôi
                                                           Theo dòng đời, bao thân phận nổi trôi
                                                           ANH ở lại, lê kiếp đời cay đắng
                                                           TÔI ra đi, thân lưu lạc xứ người

            Từ biệt ANH, lòng bùi ngùi vô hạn
            Bốn ba năm, đội ngũ ta tan hàng
ANH và TÔI, đôi mái đầu bạc thết
Có kịp nhìn lịch sử phải sang trang.?                     Hoài Việt.




CHUYỆN HỔM RÀY




Sau khi trút hết niềm tâm sự học trò trong cuốn “Khi Lá Xanh Rồi”, tui đập ống heo ra lấy tiền in sách tặng Thầy Cô bạn bè trường xưa Hoàng Diệu.Tui nghĩ mình đã cạn nguồn cảm hứng về mấy cái chuyện thời còn con nít.Bây giờ bạn bè ai cũng có tuổi hết rồi, U70 chứ nheo nhẻo gì nữa, cũng ông nội bà ngoại, tóc muối tiêu, đau lưng nhức mỏi kinh niên(chỉ thiếu nhai trầu bỏm bẻm hay chống cái tó như thời già xưa thôi), ai cũng loay hoay lo cho cuộc sống riêng tư còn lại sau khi hưu, cũng có nhiều lý do khác nữa mà nhóm bạn tui chừng vài năm trở lại đây tự dưng bị cụt hứng, không còn tụ tập chát chít rôm rả như trước, mấy tay dzăng sĩ, thơ sĩ, ca sĩ gì gì cũng bị tịt ngòi im re từ dạo ấy,tui thấy cây viết của mình hình như bị rè theo.Mấy trang web “chạp phô”Hoàng Diệu không còn mở cửa bán hàng nữa hay sao mà vắng teo. May còn tiệm Facebook lai rai “on off”cho mấy bạn tui thỉnh thoảng vô khoe hình cháu cưng, hình nhà cửa bông hoa, phong cảnh hay hình mấy ổ bánh mì mới nướng nóng dòn...

Rồi đùng cái vụ dịch vật này xảy ra, cả thế giới lo âu như tới ngày tận thế, xã hội bồn chồn điên đảo khi mọi thứ đều bị ngưng đọng lại. Lệnh toàn quốc kêu gọi mọi người ở yên trong nhà  cho con virus khỏi phải ăn theo. Mới hơn tháng cấm cung mà ai cũng than buồn não nuột, anh xã tối ngày cứ ngâm nga “Vân Tiên dẫn vợ đi ra, đụng phải cổng nhà dẫn vợ đi vô, Vân Tiên dẫn vợ đi vô, đụng phải cái hồ dẫn vợ đi ra”hai vợ chồng cứ đi tới đi lui hoài nên cũng mỏi mệt, lấy cái Health trong phone ra coi chắc cũng chục ngàn bước chân, bèn an ủi coi như mình có thời gian thể dục.

Sách vở đầy kệ nghĩ rằng mình sẽ có dịp nghiền ngẫm, mấy cuộn chỉ len cất trong kẹt hồi nào tới giờ nghĩ sẽ có dịp đan móc gì đó cho vui, còn thùng vải vụn lúc này lôi ra may khẩu trang tặng hàng xóm cũng có lý..Nói vậy mà rớ vô cái nào cũng không thấy hào hứng, đang loay hoay với nỗi buồn như chí cắn thì gặp ông anh họ (con chiên của Chúa) gởi tặng cuốn Kinh Thánh dầy cộm. Chắc ông muốn mình nên xưng tội trước khi lên thiên đàng đây.

Rảnh rỗi tui lục lọi cái kho hầm bà lằng của mình, thấy được cuốn sổ tay cũ mèm ghi chú đủ thứ chuyện, hồi hộp coi kỷ có ai thiếu nợ mình lâu rồi mà quên trả để mình nhắc bạn ấy, ai dè toàn là tiền trả bill (hic), sao hồi đó cẩn thận vậy hổng biết. Nhưng cái vui nhất là tìm ra mấy số điện thoại của bạn bè hồi năm nẳm, thời mà chưa có Iphone Ipad để lưu thì cứ viết dài dài như ghi đề, có nhiều người lâu cả chục năm mà chưa một lần hỏi tới.

Trong tình hình dịch bệnh trầm trọng như vầy, tự dưng thấy lo lắng vu vơ, mang tâm trạng như thể ngày mai mình sẽ  chết, tui liền gọi thăm mọi người, dĩ nhiên không phải là tất cả 30.475 bạn bè người thân  từ nhỏ đến già, nhưng lúc này xa gần gì cũng phải tìm cách liên lạc, tui tận dụng từ Viber, Hangouts, V247đến Facebook, facetime, messenger...

Đầu tiên gọi vấn an mẹ già bên quê nhà, thấy bà cười móm mém trong màn hình ipad mà thương, câu đầu tiên bà hỏi “chừng nào dzìa?-Dạ khi nào bọn dịch vật bị dẹp hết thì con dzề”. Nói cho Má yên bụng chứ không biết chừng nào cái vụ này mới xong, con virus có chết thì thế giới cũng tanh bành, mọi thứ phải phục hồi lại lâu lắm Má ơi.
 Rồi email cho con trai tội nghiệp của tui ởThụy sĩ khi biết con số nhiễm bệnh bên đó khá cao. Ơn trời đã thấy cái mặt của Vy Dân trên FB “ Bonne sante’ et en securite’ Biết nó bình yên là mừng rồi, thiệt tình phải cám ơn cái thời đại công nghệ toàn cầu này, tuy xa mà như gần xịt.

Tui gọi thăm Thầy Cô loanh quanh vùng California, mấy tiểu bang kế cận hay xa hơn nữa bên Canada, Úc.. Đa phần Thầy Cô đều tuổi cao sức yếu nên được cảnh báo là giới nghiêm chăm phần chăm trong đại dịch này.Nghe giọng run run xúc động khi có học trò nhớ tới mình, khiến tui nghĩ chắc phải thăm hỏi Thầy Cô thường xuyên hơn.Ai mà biết cơn gió nào bay qua vô tình.

Tới phiên allo mấy ông bà tám mới dzui nè, tui tìm bạn bốn phương trên facebook, nhất là trong giai đoạn cấm trại này ai cũng ở yên nhà nấy nên gần như gặp nhau hà rầm trên mạng, dĩ nhiên con số vô FB cũng không nhiều, thôi thì có nhiêu chơi bấy nhiêu. Có bạn còn tạo group cả chục người để video chat thấy mặt nhau, cười nói um sùm như cái chợ, mấy cái web chạp phô mở lại để biết tình hình dịch bệnh, chia sẻ tin tức, nghe anh huynh trưởng thông báo là đến bây giờ Thầy Cô cũng như học trò Hoàng Diệu ở trong nước và hải ngoại đều bình an. Ai cũng mừng.

Muốn gọi về VN hay qua bên Pháp bên Úc bên Bỉ thì phải canh me coi giờ giấc ra sao, kẻo tình thương mến thương lại thành vô duyên khi bạn ta đang say ngũ lúc nửa đêm mà nghe chuông reo um sùm dễ nổi quạu lắm. Cách tiện nhất là nhắn tin, nhưng chữ phải có dấu đàng hoàng à nhe, chứ viết “truong cu ban cu” thì ai mà hiểu.

Cuốn sổ tay qua nhiều năm không rớ tới nên có những cái tên thân tình mà tui quên lửng, thiệt bạc bẽo hết sức, hy vọng là số di động không bị di chuyển.

Tui gọi thăm anh Vân, bạn thời sinh viên ở Saigòn sau gần 20 năm biền biệt, ơn nghĩa là hồi mới ra trường QTKD, anh ta đã sốt sắng giới thiệu cho tôi việc làm trong một Công ty của Đài loan mà bạn anh làm phó giám đốc ở đó. Anh chàng sếp này cũng dễ chịu, đi xin việc mà không qua phỏng vấn thì cũng may cho tui, chứ nếu họ hỏi trình độ ngoại ngữ “chị có biết Anh Văn không?” Mà tui trả lời “dạ, chỉ biết Anh Vân giám đốc bên Y, bên X là trớt quớt.Cuộc gọi đường dài khiến cả hai bên đều vui vẻ khi biết tin nhau.

Tui gọi thăm ông bồ cũ mà tui mất email của chàng lâu rồi, chuông reo và bài nhạc nền “Hạ trắng” vút cao làm tim tôi chới với, cái bài mà hồi hai đứa yêu nhau đã thích nó vô cùng “áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau..” lẽ nào chàng còn gọi mãi tên tui tới bây giờ? Nhạc gần hết bài mà không có tiếng allo.Tui thẩn thờ cúp máy, hổng biết chàng giờ ra sao, hổng biết đầu dây bên kia là ai nữa, mong cho chàng sống sót qua khỏi cơn đại dịch này.

Tui gọi thăm bạn thời trung học, Hello N. Ánh đây, cái giọng khàn khàn ngủ nướng “Ánh nào? Nguyệt Ánh, Hồng Ánh, Nhật Ánh?” cái giọng giả bộ thấy ghét, tui nhấn mạnh “Ngọc Ánh 68-75” À.. Ánh ngủ chung mùng với mình đó hả?”Trời, cái vụ án này lâu quá rồi mà hắn còn nhớ, thiệt oan cho tui, chuyện vầy nè hồi xưa mỗi lần từ SG về ST thì tui hay ghé nhà Lộc ngủ lại, vợ Lộc giăng cái mùng trên gác cho tui, rồi thỉnh thoảng NĐL về cũng ngủ trong cái mùng đó, thế là bị bạn bè chọc là hai đứa ngủ chung mùng, khổ quá, ngủ cùng một cái mùng thôi. Bây giờ nghe hắn nhắc lại mà buồn cười. Tui hỏi L về chị H thì biết là chị về VN hôm trước Tết nên bị kẹt luôn ở bển, tụi tui nhắc tên vài đứa bạn cùng thời, về căn nhà của gia đình hắn ở sau bưu điện tỉnh mà hồi xưa đi học về tui cũng thường ghé đó chơi... Bây giờ vật đổi sao dời hết rồi, buồn ghê. Gát máy thì nghe cái tưng của tin nhắn Viber” Hi Darling, số phone của chị H nè” chời ơi, hắn gọi tui là Darling? Chắc lộn rồi, tui là Darcula.

Hồi đi học tui thích chơi với con trai hơn con gái(chắc được má tui bật đèn xanh nên tui không sợ bị la) trong danh sách phone nam cũng nhiều hơn nữ, nhưng sợ mấy nhỏ nói tui mê trai nên tui gọi tá lả một hơi trai gái có đủ, số này kẹt thì gọi số kia, bạn bè lâu ngày gặp gỡ thì đủ thứ chuyện để nhắc vui ơi là vui, trong lúc dậm chân tại chỗ như vầy mà nằm dài trên giường tám với nhau thì cũng thú vị thiệt.

Tui khoái nghe tiếng cười dòn của nhỏ bạn bên VN mỗi khi gọi về, con nhỏ lạc quan vui tánh nên bạn bè ai cũng thích,  Tui cũng chia sẻ tiếng thở dài thậm thượt của chị đồng môn bên Bỉ vì buồn chán chuyện riêng tư, tui dành thời gian để chát với cậu em bên Pháp, hắn khóa đàn em mà chuyện đào hoa thì vượt hơn các đàn anh xa lắc “buồn quá chị ơi, em kẹt trong chỗ làm không về được, cả tháng rồi thèm cơm mà cũng không gặp được phở, thêm điện thoại cùi bắp chẳng có facetime thấy mặt ai, tối ngủ chèo queo thiệt khổ”. Tội nghiệp hen, thôi chịu khó gặm bánh mì phô mai sống cầm cự đợi ngày ăn cơm mà mơ ôm phở đi nhóc. Có lẽ hắn là người nguyền rủa con virusWuhan nhiều nhất.

Ngày chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu.”cái bản nhạc sao mà trúng tim đen vậy ta, hơn tháng nay thấy ngày nào cũng là chủ nhật buồn hết, nhưng tui có may mắn hơn những người nhàn rỗi khác là tui có nhiều chuyện để làm  (việc nhà coi vậy mà làm hoài hổng hết nhe, hứa may khẩu trang cho hàng xóm nữa) có nhiều bạn để tâm tình trong lúc căng thẳng vì âu lo dịch bệnh này và nhất là có nhiều người để mình nói lời yêu thương với họ mà trước giờ chưa quởn trút bầu tâm sự được..Hy vọng sống sót qua con trăng này thì tui sẽ yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ nhiều hơn , mà hổng biết có kịp không nữa.

Ngọc Ánh



NỘI TRÚ GIA LONG NIÊN HỌC 48-49


                          
                    Kỷ niệm một thời nội trú ở trường Nữ Trung học xưa nhất miền Nam Việt nam 
           
 Kết quả cuộc thi tuyển vào lớp một Trung học đệ nhất cấp vừa được niêm yết là phụ huynh học sinh ở 21 tỉnh miền Nam bấy giờ vội vã nộp đơn xin cho con vào nội trú. Thời kỳ nầy, quan niệm ‘nam nữ thụ thụ bất thân’, tên còn nam Văn, nữ Thị, huống hồ trường đào tạo những mầm non trí thức khoa bảng tất phải phân định rõ ràng theo truyền thống nước nhà. Trường Việt dành riêng cho nữ sinh miền Nam nổi tiếng nhất dưới thời kỳ Pháp thuộc nầy là ‘Collège Gialong’ dạy từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, trước kia còn gọi nôm na là trường Áo tím.

           Nhớ lại những năm củi quế gạo châu, thời Nhật chiếm đóng, Nhật thiếu chất đốt dùng lúa thay dầu, than đước, cưởng bức dân ta trồng bông vải thay bắp khoai. Miền Bắc trên một triệu người chết đói, ngay cả ở ‘’vựa lúa’’miền Nam, dân nghèo phải dùng bao bố tời che thân.

            Niên học nầy, có lẻ ảnh hưởng sâu đậm của hậu thế chiến thứ hai thắt lưng buộc bụng, đồng phục học sinh không là áo dài mà áo ngắn, áo bà ba trắng, quần dài có thể trắng hoặc đen.


                                        Cô Émilie Võ Thành dạy Địa niên khóa 1948-49

          Hiệu trưởng là bà Dubois, vị Hiệu trưởng Pháp cuối cùng của trường. Giám thị hầu hết là Việt như cô ba Trí, cô ba Liểu, cô tư Hạnh, cô năm Hoằng, v;v, và độc nhất một cô Pháp chính cống hiền hậu mà học sinh gọi là ‘cô ba Chệt’nói tiếng Việt trôi chảy.  Đây là trường công lập, trúng tuyển vào học miển phí hoăc được cấp học bổng nên cuộc thi tuyển thật khó khăn.

 Các tỉnh miền Nam thời trước đâu có nhiều trung học như ngày nay, ngay cả trường dành riêng cho nam sinh cũng ít, huống hồ cho các cô gái. Ông bà ta quan niệm phái yếu ‘khuê môn bất xuất’, không thích cho con gái học cao, có lẻ vì phải đi xa, bất trắc khó lường, không kiểm soát bảo vệ được nên thường lập luận ‘‘con gái biết chút ít chữ nghỉa là đủ rồi, học nhiều mà làm chi,...chỉ để viết thư cho trai cho mèo, nguy hiểm lắm’’. Óc ‘tang bồng hồ thỉ’ xuôi ngược dọc ngang, đi học ‘’dài lưng tốn vải ăn no lại nằm’’ thường dành riêng cho nam nhi chi chí. Thời điểm nầy, dù có cởi mở chút ít rồi, nhưng vẫn còn hạn chế, không phải thành phần xã hội nào cũng đủ tài chánh để lo cho con cái đuợc.

 Mừng là còn được tiếp tục học nhưng nghĩ phải xa nhà,  tôi cảm thấy vừa lo âu, nôn nả, luyến tiếc vì lần đầu tiên rời gia đình, bạn bè quen thuộc. Nhìn mẹ bận rộn sắm sửa theo chỉ dẫn qui định của trường, năm bộ đồng phục, mền mùng chiếu gối, giày guốc,... tất cả đều mang số (tôi 36, Vỏ thị Mầu 35, Nguyễn thị Hạnh 34), tôi lửng thửng ra hành lang nằm chèo queo trên vỏng chẳng buồn đưa. Nhìn ra vườn, cây sơ ri đơm bông tím nhỏ lốm đốm vài chùm trái đỏ vàng xanh, cây táo sum suê, mỗi lần gió thổi lá vàng bay rơi rơi cùng bao quả rụng. Trước đây, không bao giờ tôi bỏ lỡ cơ hội nầy đâu, thế nào cũng vội chạy ra lượm nhanh trái táo chua chua dòn rụm, chùi sơ sơ vào áo,  rồi nhanh như cắt chạy tìm đĩa mắm tôm chà mẹ phơi nắng trên nắp lu nước mưa ngoài trời, quệt lén một chút, ngon ơi là ngon !


                                         Trường Nữ Trung học Gia long

Đêm đầu tiên nhập nội trú, tôi nhớ nhà quá khóc rưng rức làm cô tư Hạnh giám thị đến hỏi thăm :
’’ Bịnh hả ? Có chuyện gì vậy ?’’.
 Sợ quá mếu máo trả lời :
’’Em nhớ má em quá cô ơi.’’
Cả ‘dortoir D’ cười rộ và từ đó tôi nổi danh’’mít ướt’.


                                         Phòng ngủ nội trú – Dortoir

Về y phục, má tôi cẫn thận chuẩn bị trước thời kỳ ‘trổ mả’ của con gái nên mẹ tôi may ba bộ thật vừa vặn, hai bộ phòng hờ. Đến đây quả là ‘’mưu sự tại nhân thành sự tại’’... nhân viên. Vì sau khi giặt ủi xong, phân phối lại, có khi cũng bộ đồ nhưng quần nầy áo nọ. Có lần tôi mặc phải áo ‘tương lai’ của tôi rộng thùng thình, dài gần tới đầu gối, tay dài như ‘trò lể’ xăng lên hai cuộn vẫn còn dài cùng với chiếc quần  cao khõi mắt cá. Ngược lại, đôi khi quần quá dài, may là bấy giờ còn dùng giây lưng vải nên lắm lúc không tài nào xắn ống cao được nữa, đành phải kéo lên đến nách buột thắt nút dễ dàng.

          Trên 50 năm , tôi vẫn còn nhớ hai chị nằm cạnh, chị Bùi thi Tuyết Mai, em gái Bùi thị Tuyết Hồng (Cần thơ) cùng lớp và Huỳnh thị Ngà (Bến tre), Ngoài ra còn có các chị Trần thị Kim Tiếng, Nguyễn thị Chính (Vĩnh long). Trần Mỹ Dung (Gò dầu hạ, Tây ninh), Nguyễn thị Bạch Hồng (Cần giuộc), chị Đông Ba ( Huế ), chị Khương (Vĩnh long)... Niên khóa nầy còn có Quách Thanh Tâm (Tây ninh), Nguyễn thị Hạnh (Gò công), Phạm ngọc Diệp (Vĩnh long), Khưu thị Ngọc Sang (Bạc Liêu), Nguyễn thị Yến (Bình Chánh), Vỏ thị Mầu(Gò công), Đoàn Nguyệt Thu (Mỹ Tho )...

Kỷ luật lúc bấy giờ khá khắt khe, học sinh thường cho là độc đoán, bất công. Sợ trực tiếp là các giám thị, đại diện quyền uy, phạt nhiều thưởng ít, nhất là phê hạnh kiểm, ‘consigne’, chúa nhật không cho phép giám hộ rước ra. Tuyệt đối cấm không được mở cửa sổ lầu quay ra phía đường Legrand De La Liraye, người đi rước không thể là cậu trai trẻ đại diện. Mỗi chiều, 17giờ có bán bánh mì ‘baguette’, ai mua trước thì còn, chậm chân thì hết, nhịn chờ cơm tối. Sau đó là phát thơ. Tin nhà thì nhận được, chứ tin khác thì khó qua lọt sự kiểm duyệt gắt gao của văn phòng.

Có sống chung nhau, cá tính mới dễ lộ rõ, tốt có xấu có. Câu ‘’nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò’’được thể hiện qua hỗn danh gán ghép ‘vô tội vạ’ vào khuyết tật của cô nào ít được lòng học sinh như cô ba Lép, cô ba Chệt’. Thật sự, trên đời, không ai hoàn toàn cả, thế mà phê phán chê bai, dù biết rằng vô căn cứ đi chăng nữa, vẫn có người thích nghe, phổ biến.

Niên học nầy còn đánh dấu nhiều biến chuyển quan trọng. Lần đầu tiên,  nữ sinh nội trú đã làm reo, tuyệt thực, khóa phòng ngủ, nhốt giám thị, đả đảo Ban Giám đốc, mặc tình cho bà Dubois Hiệu trưởng đến từng nơi kêu gọi mở cửa, vô hiệu. Cũng năm nầy, leo rào cổng chính đi biểu tình đến tận dinh Phó Thủ tướng Trần văn Hữu đường Gia long, bị giải tán bằng ma-trắc dùi cui, lựu đạn cay chạy rã hàng đến chợ Saigon. Hậu quả trường bị đóng cửa, học sinh nghỉ học.Tiếp đến là Phong trào Sinh viên, Học sinh vùng lên, rồi cái chết của anh Trần văn Ơn với đám táng đông đảo nhất qui tụ mọi thành phần dân chúng làm chính quyền lung lay. Từ đấy, mấy năm liên tiếp, không còn nội trú vì đãy là nơi tập trung lực lượng trẻ trí thức miền Nam dễ gây bạo động chống chính phủ, chế độ.


Dinh Gia long

          ‘Đèn nhà ai nấy sáng’, trường ai nấy bảo vệ uy danh. Thế nên, trong những lần rảnh rang tán gẫu, nhiều ý kiến bàn về tên trường Gialong. Đây là Nữ Trung học, hơn thế nữa, trong quá trình lịch sử ta đâu thiếu anh thư, mẫu nghi, thi sĩ, thế mà miền Nam có Gialong, miền Trung có Đồng Khánh ! ! !

Nhớ thời kỳ ‘’tù có số’’ thích nhìn những cây mít trong sân, thèm thuồng mong đợi’’dái mít’’ lố nhố đầy cành, rồi đến quả tòn teng bám thân cành nồng thơm nặng trĩu.


                                           Cây mít ở trường Gia long

Làm sao quên được hàng cây cao rợp lá dọc hai bên đường chính như hàng rào danh dự. Ngày chúa nhật, vào trưa vắng học sinh, chờ chị phụ bếp đi về đội  một vừng cơm cháy chảo vàng khếu, thoa muối mở hành như chiếc nón bài thơ trở ngược, nữ sinh bao quanh ‘xin’ miếng ngon dòn. Ai mua được, chia bạn bè người một tí, ‘’của ít lòng nhiều’’, bầu bạn xẻ chia. Có lần mẹ gởi mạch nha lên, dù không có bánh phồng, tay thắm nước, rao ‘kẹo kéo đây ’vừa mềm vừa ngọt. ‘’Sống lâu hơn ở sạch’’, mút tay cho thật kỹ, nước miếng cũng là thứ sát trùng thôi.

           Lưu bút phai màu, album sờn bìa được lần giở lại, gương mặt ngày xưa sao mà lạ hoắc, dễ thương. Có những bức ảnh buồn cười mình từng chê dấu kỷ, nay nhìn lại sao mà nhắc gợi mình bao kỷ niệm khó quên. Chữ viết gò nắn nót lồng trong khung trang trí trình bày bằng nét vẽ tim hoa cành lá, mỗi người mỗi vẻ diễn tả ý tình riêng.  Sâu đậm nhất là thời kỳ nội trú, sống cạnh nhau, chia xẻ lo sợ vui buồn, rèn luyện như thép được tôi ròng.

          Bây giờ, con đàn cháu đống, tóc bạc da nhăn hay còn son giá, dù ở hoàn cảnh nào đi chăng nữa, lâu lâu, phim kỷ niệm bất chợt chớp hình phóng ảnh bồng bềnh, chuỗi ngày nội trú vẫn là khoảng thời gian trui luyện, tập tành công hiệu nhất của một thời hoa tươi trẻ hồn nhiên.                           
                                                 Cô Trần Thành Mỹ

 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual