HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

VIỆT NAM -CON RỒNG CHÁU TIÊN-NƯỚC TÔI

 


 

            Nhìn trên bản đồ thế giới, chưa thấy nước nào có hình thể đẹp như Việt-nam, một chữ S rõ nét gợi hình. Đúng là dáng đứng của một cô gái ngực nở eo thon mông đầy thanh thoát. Tóc lúc nào cũng xanh như lá rừng miền Bắc, khỏe mạnh vững chắc vì cốt tủy được kết tinh bằng Trường sơn hùng vĩ, phì nhiêu như đồng bằng miền Nam trù phú. Cô gái Việt Nam nầy lại trẻ mãi không già dù tuổi đời chồng chất trên bốn ngàn năm. Cái sắc đẹp tự nhiên thiên phú đó còn được tô điểm, bảo vệ thêm bằng cảnh trí nước non thơ mộng, gợi cảm, thách thức, kiêu hùng, thế dựa Trường sơn nhìn ra đại dương biển cả, huyết mạch được điều hòa lưu thông do hai giòng sông Hồng và Cửu long.

 

         Việt Nam còn được hình dung như một chiếc cân hai đĩa dung hòa tình lý, chiếc đòn gánh của các bà mẹ tứ đức tam tùng, vượng phu ích tử với hai thúng gạo quê hương hoặc của cha ông quảy gánh giang sơn với hai thùng Hồng Cửu.

        "Hòn-ngọc Viễn đông", "Bao-lơn Thái bình dương", "Vựa lúa Á châu" bao mỹ danh đó cũng biến Việt nam thành một miếng mồi ngon cho bao kẻ háo sắc giàu sang ham của lạ, một bàn cờ tranh chấp ý thức hệ che dấu ý đồ trục lợi, bá chủ, xâm lăng.

 

      Chiến thuật chiến lược giữ mình giữ nước "biết người biết ta" được trui luyện bằng kinh nghiệm máu xương truyền thống thần tình đã làm tên tuổi mảnh đất anh hùng Việt Nam trở thành bất diệt, lưu danh muôn thuở.                                                                                            

                                                                                                                                                                                                                                                  "Hồng nhan bạc mệnh", "hồng nhan đa  truân" có còn ảnh hưởng đến cô gái mỹ miều  tài hoa nầy nữa không? Hy-vọng rằng cô gái Việt-Nam sẽ sống vĩnh cửu để làm đề tài suy gẫm nguồn cảm hứng và tấm gương sáng cho những ai yêu chuộng hòa bình tự do.

 

                                                                                       Cô  Trần Thành Mỹ

  CON RỒNG CHÁU TIÊN

 

 

               Biết bao dân tộc đã tìm hiểu nguồn gốc của mình! Dân tộc nào mà chẳng có huyền sử? Nước Nhật ví mình con cháu Thái dương thần nữ, Trung quốc tự cho mình là Thiên tử con trời. Dân tộc ta cũng thế, nhưng thật  thi vị  và sáng tạo làm sao: Con Rồng Cháu Tiên!

 

          Nhưng Rồng là ai? Là gì? Có ai nhìn thấy rồng chưa ? Hình dáng ra sao ? Không ai thấy rồng mà cả thế giới đều công nhận là biết rồng. Nói nôm na là rồng, theo chữ Nho là "long". Với óc tưởng tượng phong phú, người châu Á nói chung và người Việt nói riêng hình dung rồng mình dài uốn khúc, đầu tựa lân và bay lượn tuyệt vời. Với sức mạnh vạn năng không chế ngự được, ý thức vùng vẫy phóng khoáng cực kỳ tự do, Rồng đứng đầu trong bốn con vật quí và sống lâu nhất  gọi là Tứ Linh, long lân qui phụng. Rồng hút và phun nước làm mưa, do đó trở thành nguyên nhân của bao trận cuồng phong dữ dội, những cơn vũ bão, trận lụt kinh hoàng. Có nhiều loại rồng tùy theo màu sắc của mây khi gần có mưa to, rồng trắng (bạch long), rồng đen (hắc long), rồng vàng (huỳnh long) ... Rảnh rỗi lật tự điển vào chữ " long ", ‘’rồng’’ các bạn sẽ tìm ra bao chữ ghép và khám phá ra nhiều điều thú vị bất ngờ như mặt vua là long nhan, chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa.. Tóm lại  đặc tính căn bản của rồng  vẫn là sức mạnh  và tự do tượng trưng chủ yếu phái nam.

 

Đây là một con sông có thật ở Bồ Đào Nha. Tên thật của nó là sông Odeleite nhưng vì hình dáng uốn lượn như một con rồng nên người dân địa phương mới gọi nó bằng tên gọi Blue Dragon (Rồng Xanh).




Rồng Xanh (Blue Dragon)

 


 


    Vòi rồng trắng xuất hiện cạnh cầu vồng. Hình ảnh được chụp bởi nhà săn bão Eric Nguyễn vào năm 2005 ở

Kansas – tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ.

 

         Còn Tiên là ai?  Có ai gặp tiên lần nào chưa ? Thế mà văn chương, thi ca , âm nhạc, huyền sử đều ca tụng vẻ đẹp hiền dịu tuyệt trần của tiên. Tiên chẳng những tuyệt đẹp mà còn nhiều quyền phép. Dẫn chứng về tiên, Pháp có chuyện Cendrillon ( nàng Lọ Lem) Tàu với Đường minh hoàng du Nguyệt điện, Tây du ký, Việt Nam ta có Tấm Cám,..Vậy sắc đẹp và phép mầu là sở trường dành riêng cho phái nữ nói chung và cũng là hai điều căn bản đầu tiên trong Tứ đức giáo huấn phụ nữ Việt nam, công dung ngôn hạnh.

 

         Ông cha ta sao mà thông minh lạ đã biết dùng hai biểu tượng vô hình tuyệt vời rồng tiên nầy lồng gắn nhập thể vào cội nguồn dân tộc . Cám ơn tổ tiên đã thật khôn ngoan sâu sắc lưu truyền cho con cháu đời sau  huyền sử thơ mộng, di sản văn minh vô cùng sáng tạo quyện lấy tinh thần kiêu hùng bất khuất con Rồng cháu Tiên.

      

                                                                  NƯỚC TÔI

 


 Ruộng bậc thang

 

          Rời quê hương bao nhiêu năm thế mà mỗi lần nghe đến hai tiếng Việt Nam mình cảm thấy như gần gũi làm sao! Không biết đến chừng nào mình mới quên được quê hương! Sông còn có khúc, quê hương mình cũng có lúc đổi thay cơ mà! Không có khoảng cách trống vắng thì làm gì đo được độ nhớ nhung. Mỗi người chúng ta đều có quê hương, nếu không biết yêu thương tổ quốc mình thì làm sao yêu được xứ người.

 

          Xin đừng bao giờ quên nguồn cội tổ tiên, vì chỉ có kẻ mất gốc mới quên hơi ấm của quê mình, hương vị của cỏ cây, nhịp sống của đồng bào ruột thịt. Chỉ có kẻ điên rồ mới tưởng nhung lụa áo quần, quốc tịch là thay đổi cuộc đời hoặc bước thang danh vọng. Đó chỉ là nếp sống phù phiếm, lớp võ bên ngoài cũng cần nhưng chưa đủ. Còn đua đòi ganh tị chỉ làm hại cho bản thân, tạo cơ hội thuận lợi cho sự thoái hóa xã hội, ươm mầm mống cho sự cằn cỗi và bần cùng hóa tâm hồn. Nhưng ngược lại, sống khác người, tự thu hẹp trong quan niệm riêng của mình cũng là quá đáng.

         

          Phải tập như giòng nước, lúc chảy êm xuôi như dòng sông trong những chiều êm ả uốn khúc lượn quanh núi đồi cồn đá, lúc vồn vập gầm thét dữ dội lúc lững lờ trôi. Thế mà nước thật như có, thật như không và không có sức mạnh nào ngăn chận được. Nước vạn năng và tối cần. Không ai nhớ đến tầm quan trọng của nước nhưng vị trí của nước đối với trái đất thật đậm đà mật thiết quyện lấy sự sinh tồn của sinh vật cỏ cây. Không có nước tức không có sự sống. Nước đích thật là nguồn sống cho thế giới chúng ta.

 

Ông cha ta ngày xưa sao mà văn minh lạ đã biết nôm na gọi tên tổ quốc mình bằnh chữ NƯỚC thân thương. Tổ tiên ta há chẳng có ý muốn lưu truyền cho thế hệ mai sau tâm tình yêu giữ nước như giòng máu mình, cho sự sinh tồn dân tộc, sống còn và đoàn kết của loài người trên trái đất nầy sao?

 

                                                                       Cô Trần Thành Mỹ

 

KHAI BÚT ĐẦU XUÂN

 

 


                              

                                        (thơ vui)

                                         Đầu Xuân, tôi khai bút

                                    Xin chân thành kính chúc

                                    Tất cả quí bà con

                                    Một năm toàn hạnh phúc.

 

                                    Chúc quí bà vẫn vậy

                                    Vẫn cứ đẹp phây phây

                                    Không cần đi mỹ viện

                                    Hút mở bớt mập phì.

                                   

                                    Chúc các cô thiếu nữ

                                    Khéo giữ gìn, kẻo hư

                                    Nghe mấy “cha” bác sĩ

                                    Độn,bơm cho quá bự!

 

                                    Nhắc chung các cô bà

                                    Đừng cứ ham đồ giả

                                    Toàn bôtox, plastic

                                    Silicon không hà !!!

 

                                    Và xin chúc các ông

                                    Mạnh khoẻ như khủng long

                                    Cày đêm ngày mấy “job”

                                    Làm bà xã hài lòng !

 

                                    Nhắc nhỏ cánh”phe ta”

                                    Muốn êm ấm cửa nhà

                                    Khi biết mình hơi. . yếu

                                    Cầu « thần » . . Viagra !

 

                                    Nhắc các bạn thanh niên

                                    Phải học hành thật siêng

                                    Lo công danh sự nghiệp

                                    Nhớ cội nguốn tổ tiên.

 

                                     Nè. . . các cháu sơ sinh

                                    Sớm hiếu thảo,thông minh

                                    Kính ba một bình sửa

                                    Đừng giành hết cho mình !

 

                                   

 

 

                                    Kính chúc quí bà con

                                    Nơi quê nhà thân thương

                                    Một năm nhiều may mắn

                                    Nạn « dân oan » không còn.

 

                              Nguyện cầu toàn nhân loại

                              Thoát khỏi con CÔVI

                              Bao thế lực gian ác

                              Phải bị tiêu trừ đi

 

                               Cuộc đời luôn nở hoa

                              An lạc mãi trong ta

                             Hãy cùng nhau cầu nguyện

                             Sức khỏe khắp mọi nhà.

 

Tú Cù

                                                                                   

 

XUÂN NẦY CON KHÔNG VỀ



Giữa mùa đại dịch tràn lan
Con không về được thở than mẹ buồn
Tháng ngày con nhớ mẹ luôn
Ngồi nhìn tuyết đổ lệ tuôn đôi dòng
Ai về lặt lá mai vàng
Ai về quét dọn sửa sang bàn thờ
Ai về chặt nhánh dừa khô
Luộc nồi bánh tét củi khô đêm về
Ngồi nghe mẹ kể chuyện xưa
Ông bà khổ cực ruộng chưa vào mùa
TẾT về mẹ dẫn đi chùa
Thắp nhang lạy PHẬT đón mùa xuân sang
Rẩy dưa hấu đỏ bìa làng
Ai đi hái trái con mang đem về
Xứ người giá lạnh tái tê
Con ngồi nhớ lại làng quê của mình
TẾT nầy mẹ nhớ giử gìn
Mùa xuân ly cách nhưng tình nào phai
Mùa xuân chia cách TÂN SỬU 2021
Trịnh Quang Chiếu

NHỚ VỀ THA LA XÓM ĐẠO

 

                                      

 

Xóm Đạo Tha La .

Trước tiên, từ ngữ “xóm đạo”, để chỉ một “xóm gồm những tín đồ theo cùng một tôn giáo sống chung cùng nhau; nhưng từ “xóm đạo” thường để dành chỉ xóm của những ngưòi theo đạo thiên chúa hơn. Xóm đạo cũng có thể hiểu là một họ đạo.Nói về xóm đạo, trên toàn cỏi miền Nam có hàng trăm xóm như vâỵ, trong đó nhiều xóm, họ đạo rất nổi tiếng như tại Sài gòn với xóm Bình An(quận 8), Tân Phú... Tại các địa phương có họ đạo Tắc Sậy( Bạc Liêu), họ đạo Cù lao Giêng (Long Xuyên) được biết nhiều và đặc biệt “Tha La Xóm Đạo”, vì  lịch sử rất đáng lưu ý mà chúng tôi trình bày sau đây.Và Tha La là gì, trước tiên đây là một danh xưng nghe thật đễ thương vô cùng.Tha La nguyên thủy  do từ  “sa la’’, gốc tiếng Cam Bốt , với nghĩa ban đầu là một cái chòi, trạm nhỏ hay nơi dùng cho các sư sải người Miên tu học. Ngày xưa thật xưa, đường xá đi lại không nhiều, và cũng không có hàng quán bán nước giải khát, bà con người mình hay cất một cái chòi nhỏ trên con đường nhiều người qua lại,, bên trong có một chum(hủ, khạp) nước với cái gáo múc thường bằng gáo trái dừa khô , để bà con đi đường vào nghỉ chân và uống nước.Xóm Đạo Tha La chúng tôi đề cập nay thuộc xã An Hoà,Trảng Bàng(Tây Ninh), là họ đạo có từ thời Pháp,qua nhiều biến cố, nay vẫn còn và đang được xây dựng trùng tu. Là khách yêu thơ, hẳn chúng ta còn nhớ bài “Tha La Xóm Đạo” của nhà thơ  Vũ Anh Khanh,khi trở về thăm chốn cũ:

                              Tha La xóm đạo

                              Có trái ngọt cây lành

                              Tôi về thăm một dạo

                              Giữa mùa nắng vàng hanh.

                              . . . . . . .

                              Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La

                              Đây mênh mông xóm đạo với rừng già

                              Nắng lồ lộ rụng trên đầu viễn khách

                              Khách bước nhẹ trên con đường đỏ quạch

                              Gặp cụ già đang ngóng giữa bâng khuâng.

          Và cũng một nhà thơ khác, Kiên Giang Hà Huy Hà, ông nầy không nhớ ngôi giáo đường Tha La, mà chỉ nghĩ đến “ngưòi em xóm đạo” qua bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”

                              Lâu quá không về thăm xóm đạo

                              Từ ngày binh lửa cháy quê hương

                              Khói bôm che lấp vùng quê mẹ

                              Che cả người thương nóc giáo đường

                              . . . . . . .

                              Mặc dù em chẳng còn xem lễ

                              Ở giáo đường u tịch chốn xưa

                              Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh

                              Nghe chuông truy niệm mối tình xưa. 

          Năm 1964, nhạc sĩ Dũng Chinh phổ thành bài hát “Tha La Xóm Đạo” rất nổi tiếng. Sau đó một năm, nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La”. Bài thơ cũng được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc(?), trở thành bản tình ca nổi tiếng cùng với “Chuyện Tình Giàn Thiên Lý”. Nhưng thôi, chúng ta hãy tạm quên chuyện thơ văn, mà hãy nhớ đến Tha La Xóm Đạo với một hoài niệm vô cùng và khác biệt. Chúng ta nên biết và nhớ địa danh nầy, thuộc huyện Trảng Bàng (Tây Ninh) là quê hương của Trung Tá Hạm Trưởng Nguỵ văn Thà.

Trung Tá hạm trưởng Nguỵ văn Thà và trận chiến vệ quốc:

Người anh hùng của chúng ta vốn là học sinh trường tiểu học Trảng Bàng, gần bờ sông Vàm Cỏ Đông, nơi có xóm đạo Tha La. Trung Tá Nguỵ văn Thà, hạm trưỏng HQ 10 cùng 73 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh vào ngày 19 tháng 1/1974 khi quân Trung Cộng điên cuồng, ngang ngược xử dụng lực lượng nước lớn, áp đảo đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc nầy, quân dân miền Nam đang phải tận lực chiến đấu bảo vệ quê hương, giờ lại phải chống với quân Trung Cộng to lớn hơn nhiều.Tuy nhiên, hải quân chúng ta đã tuân hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà, nổ súng đánh trả. Ta đã anh dũng bắn trả, tiêu diệt hai chiến hạm của địch,và vì lẽ nào đó không quân của ta lại không được ra tiếp sức, lực lượng của chúng ta cũng phải chịu thua thiệt.Than ôi,  mãnh hổ nan địch quần hồ, cuối cùng về phía ta một số chiến sĩ oai hùng đã phải hy sinh.Riêng Trung Tá Thà, sau khi lo liệu cho chiến sĩ còn sống được cứu thoát, đã nhứt định ở lại cùng với chiến hạm  và cùng 73 đứa con yêu của tổ quốc, mãi mãi ngủ yên dưới lòng biển lạnh.


                             


                                                    Hình nhà thờ Tha La Xóm Đạo

 

          Chúng ta, nhân đây xin ghi lại tóm lược đôi điều về Hoàng Sa cùng trận hải chiến, mà kết quả cuối cùng là Việt Nam Cộng Hoà đã phải bỏ hải đảo thân yêu cho Trung Cộng chiếm đoạt.  Hoàng Sa cùng với Trường Sa là hai quần đảo mà từ nhiều trăm năm trước, Việt Nam đã đi lại khai thác, không có bất cứ quốc gia nào tranh cản hay lên tiếng phản đối. . . Khi người Pháp xâm chiếm VN làm thuộc địa, họ đã chánh thức công bố chủ quyền trên hai quần đảo nầy,và khi họ trả độc lập cho chúng ta,cũng đã giao lại 2 quần đảo cho chánh phủ “Quốc Gia Việt Nam”.Sau hiệp định Genève, Việt Nam Cộng Hoà thành hình, với lảnh thổ từ vĩ tuyến 17 xuống tận Cà Mau,đương nhiên có chủ quyền trên 2 quần đảo vì chúng nằm dưới vĩ tuyến 17. Thực tế, tại quần đảo Hoàng Sa cũng có một số ít đảo nhỏ do Trung Quốc ngang ngược chiếm giữ, nhưng phần lớn các đảo do ta làm chủ, ngư thuyền chúng ta đi về khai thác hải sản không bao giờ có sự kiện bị “tàu lạ” nào cướp phá hay bắn giết ngư dân.

Một sự kiện thật quan trọng có tính cách lịch sử(và công pháp quốc tế),là vào năm 1951, tại hội nghị San Francisco, với sự hiện diện của 51 quốc gia, Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam, ông Trần văn Hữu đã long trọng tuyên bố chủ quyền trên 2 quần đảo,mà không gặp bất cứ một sự kháng nghị nào của bất cứ quốc gia nào(kể cả phe anh em T.Q là Liên Sô).Cũng cần nói rõ là trong nghị hội nầy không có đại diện của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa(Trung Cộng) hay Trung Hoa Dân Quốc(Đài Loan), vì giữa Liên Sô và Hoa Kỳ không thống nhứt được việc chọn phe nào là đại diện quyền lợi Trung Hoa. Cũng phải nói thêm là khi đệ nhị thế chiến kết thúc, Nhựt là phe thua trận, phải bị giải giới và rút khỏi Đông Dương. Quân của Tàu Tưởng trách nhiệm giải giới quân Nhựt phía bắc, và quân Anh phụ trách phía nam. Cần phải xác định rõ, giải giới hoàn toàn không phải “chiếm đóng” hay giành quyền làm chủ. Khi hội nghị San Francisco diển ra, thì trớ trêu thay phe Tàu Tưởng bị thua,chạy ra thành lập “Trung Hoa Dân Quốc” tại Đài Loan. . . Trong hội nghị nầy, với nội dung chính là quân Nhựt từ bỏ mọi quyền lợi trên các đảo(trong đó có Hoàng ,Trường Sa) và bác bỏ hoàn toàn quyền hạn của Trung Quốc liên quan đến các đảo.Nghị Quyết đã được 46 phiếu thuận áp đảo.Sau đó , Liên Sô cố bênh vựcTrung Cộng bằng cách đưa ra tu chánh án về quyền hạn (và quyền lợi) của Trung Cộng liên quan các đảo tại Thái Bình Dương.Đây là một đề nghị “cố đấm ăn xôi” hoàn toàn vô căn cứ nên đã bị nghị hội bác bỏ với số phiếu gần như tuyệt đối.(48/51).Và sự công bố khẳng định đầy chánh nghĩa và lý lẽ của đại diện Quốc Gia Việt Nam nói rõ: “. . . để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau nầy,chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đôí với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn thuộc về Việt Nam. . “Lời tuyên bố không gặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu quốc tế nào.)(Xin lưu ý,  là theo  trang web của nhà nước CSVN  họ cũng chánh thức ghi nhận dự kiện nầy).Sau cuộc chiến quốc cộng, Trung Cộng cuối cùng đã chiến thắng và họ cần thời gian củng cố thực lực,và dĩ nhiên  tham vọng bá quyền luôn nung nấu trong đầu họ, cũng như phe “dân quốc”, tất cả “Tàu nào cũng là Tàu”đều muốn nuốt chửng Việt Nam(Buồn thay, chẳng biết đến bao giờ tất cả người Việt Nam cùng nhìn về một hướng để nhận rõ thảm họa nầy). Và do vậy, vào tháng 9/1958 Trung Cộng đã công bố chủ quyền trên bốn quần đảo Nam Sa (Hoàng Sa), Đài Loan, Tây Sa (Trường Sa) và Bành Hồ cùng “ lảnh hải 12 hải lý”.Ngày 22/9/1958 Thủ Tướng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa(Bắc Việt) ra công hàm tán thành công bố lảnh hải 12 hải lýcủa đàn anh T.C ,nhưng hoàn toàn không đề cập gì đến hai quần đảo(hoặc phụ bản đính kèm). Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng, liên quan đến lảnh thổ và quyền hạn là của quốc hội , không phải đơn thuần của hành pháp. Trong thới gian từ 1964 đến 1970, Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hoà có những vụ chạm súng nhưng không gây thương vong. Riêng Việt Nam luôn đối xử tốt, nhân đạo với các ngư phủ Trung Hoa bị lạc đưòng.  Theo lời nhiều ngư phủ thuật lại, cụ thể như ông Lữ Điều (làng Nam Ô, Đà Nẳng thuật lại : “ . . Từ đó đến tận ngày tháng 12 năm 1973, đơn vị địa phương quân của QL/VNCH bảo vệ Hoàng Sa vẫn thường xuyên cứu ngư dân Trung Quốc gặp nạn. . .” . Ông nầy là ngưới tình nguyện tham gia vào đơn vị bảo vệ H.S (www.thanhnien/vn.com ) .  Vào năm 1973, qua Hiệp Định Paris,người Mỹ đã rút quân và thiết bị, không can dự vào Việt Nam nữa, và dĩ nhiên hải quân Mỹ(hạm đội 7)đã “đứng ngoài” trong trận hải chiến vệ quốc của VN.Đến ngày 11/1/1974, trước khi quyết đánh chiếm Hoàng Sa,Trung Quốc ra tuyên bố Hoàng Sa là của họ.Và phía Việt Nam  một lần nữa, cũng ra tuyên bố khẳng định chủ quyền.Ra tuyên bố và lực lượng Việt Nam giữ gìn hải đảo vẫn hiên ngang kiên cường , sẵn sàng đối phó, dù còn đang phải dốc toàn lực chống lại cuộc lấn chiếm từ phương Bắc. Trong trường hợp như vậy, V.N quyết định thành lập một phi trường lớn tại quần đảo đủ  để phi cơ C7- Caribou có thể lên xuống, chuyển quân nhanh chóng, và ngày 16/1/1974 phái đoàn của Việt Nam ra chuẩn bị công việc như dự tính, thi khám phá ra sự hiện diên của lính Trung Quốc. Ngày 17/1 ,chánh phủ Việt Nam gởi công hàm cho Hội Đồng Bảo An/Liên Hiệp Quốc đề nghị ban bố biện pháp thích hợp để cải thiện tình hình.Tiếc thay, trong cơ quan “què quặt” nầy có hai quốc gia là Trung Quốc và Nga Sô có quyền phủ quyết,do vậy xem như lời đề nghị của VN chẳng một lời phản hồi , và chiến cuộc diễn ra.

          Đây là một hồ sơ thật dầy, và đến nay còn ẩn chứa những điều “bí ẩn”, không thể trình bày ngắn gọn, chỉ xin ghi ra vài sự kiện như sau:

-Xét về tương quan lực lượng tại vùng xảy ra hải chiến, phía Việt Nam gồm 4 chiến hạm.Về phía Trung Quốc họ cũng có 4 chiến hạm. Xét về tầm cở và vũ khí (tại trận chiến) phiá Việt Nam vượt trội hơn nhiều.

          -Chính hải quân Việt Nam, thi hành lệnh của Tổng Thống VNCH, đã chủ động nổ súng băn     vào tàu Trung Quốc trước. Phát súng đầu tiên do Đại tá Hà văn Ngạc,Hải Đội Trưỏng Hải     Đội III/Tuần Dương ban lệnh vào  lúc 10 giờ 25 phút ngày 19/1.Đây là tiếng súng nói lên      lòng cương quyết bảo vệ quê hương.

          -Trong cuộc hải chiến nầy, có sự xuất hiện “kỳ lạ”của một cố vấn Mỹ cùng lên đảo với đơn          vị bảo vệ đảo.Và sau trận chiến, phiá Việt Nam đã có kế hoạch điều hai phi đoàn phản lực

          F.5 ra Đà Nẳng, phi cơ phản lực F5 có tầm hoạt động 600 miles, đủ khả năng tác chiến tại     Hoàng Sa, nhưng rồi kế hoạch đã không được thực hiện.(?). Chúng tôi ghi đôi điều hơi dài dòng, ghi lại một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng. Quan trọng là để muôn đời người Việt Nam luôn nhớ rằng Hoàng Trường Sa là của Việt Nam, và người Việt quốc gia đã quyết lòng hy sinh để bảo vệ quê hương. Qua nhiều tài liệu, sự thật đã được minh chứng, và chúng tôi đã  trích lại, theo tài liệu của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Trong bài viết “Tổng Thống Thiệu và hải chiến Hoàng Sa” (https://mail.google.com ). Vào mùa thu 1976, Tiến sĩ Hưng đã có buổi hàn huyên cùng cựu TT Thiệu tại Luân Đôn (nơi vị nguyên thủ quốc gia tạm định cư, trước khi sang định cư tại Hoa Kỳ)).  Câu chuyện hơi dài, chỉ ghi vài chi tiết,về sự kiện Hoàng Sa,TT Thiệu đã nói “. . Tôi còn định đi thêm bước nữa”, bước nữa đây là ông Thiệu đã ra lệnh cho không quân VNCH oanh kích để phản công chiếm lại quần đảo. Chính Đại Tá Nguyễn Quốc Hưng, Phụ tá Tham Mưu Phó Hành Quân/BTL Không Quân xác nhận, vào lúc 8 giờ tối ngày 19/1/,T.T Thiệu ra lệnh cho không quân Việt Nam dùng phi cơ siêu thanh F5-E phản công và không quân đã hai lần cất cánh,mỗi lần 2 phi tuần,nhưng rồi phải hủy bỏ ,vì đệ thất hạm đội Hoa Kỳ tại biển Đông đã “yêu cầu” ngưng kế hoạch oanh tạc vì “sẽ không có top cover,tức yễm trợ khi phi cơ Trung Cộng từ Hải Nam bay lên không chiến và cũng sẽ không có rescue,tức cứu vớt. Đồng thời,ngày 18, đại sứ của Hoa Kỳ là Martin cũng nhận được chỉ thị:” tình hình phải được hạ nhiệt” từ Bộ ngoại giao Hao Kỳ. . .Chúng ta cũng nên biết là loại F5-E có tầm hoạt động trên 600 miles, dư sức từ Đà Nẳng bay ra, với khoảng cách chỉ trên dưới 200 km(vì Hoàng Sa nằm trong vùng “đặc quyền kinh tế,lảnh hải của VN).Sự kiện nầy, tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã  nêu lên những nhân chứng sống trong cuộc còn sống và định cư tại Hoa Kỳ như:Ông Lê quốc Hưng(Salem-Oregon-HK),Thiếu Tá Phạm Đình Anh(Cali), Đàm Trường Vũ(Arizona),Vũ Viết Quý(Ca),Hồ văn Giàu(Ca).

Trong bối cảnh hiệp định Paris đã được thực thi, người bạn “đồng minh” Hoa Kỳ đã rút quân, xét về cán cân lực lượng về lâu dài Việt Nam Cộng Hoà không thể đương cự với Trung Quốc. Chúng ta không đặt vấn đề thắng thua, và cũng không phân tích chi tiết, chỉ ghi lại đây một trang sử oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cũng như quyết tâm của vị Tổng Tư Lệnh/QLVNCH.

 

Dù hoàn cảnh quá ư nghiệt ngả (vừa phải chiến đấu với quân miền Bắc, lại phải chống với Trung Cộng, đã bị “đồng minh “Hoa Kỳ lại ngăn trở. ),V.N.C.H vẫn cương quyết chống trả. Ngày 18/1 ,T.T Thiệu đã bay ra Đà Nẳng,lấy giấy viết ra chỉ thị thẳng cho Phó Đề Đốc Hồ văn Kỳ Thoại,tư lệnh hải quân vùng I duyên hải.Chỉ thị ghi như sau: “ thứ nhứt là tìm đủ mọi cách ôn hoà mời các chiến hạm của Trung Cộng ra khỏi lảnh thồ VNCH,thứ hai nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mủi các chiến hạm nầy và nếu họ vẫn ngoan cố thì toàn quyền xữ dụng vũ khí để bảo vệ sự toàn vẹn lảnh thổ VNCH”.  Viết xong, T.T Thiệu cất giọng: “anh Thoại đến đây và đọc trước mặt tôi, có gì không rõ ràng thì cho tôi biết ngay từ bây giờ”. Cũng được biết, khi chuẩn bị đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Cộng đã chuẩn bị 40 chiến hạm tại Hải Nam sẵn sàng để ứng chiến.





                                     Hình 4 chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà.

                                     Bên góc trên trái, là HQ 10, do trung tá Nguỵ văn Thà

làm Hạm Trưởng.

 

Bốn mươi ba năm qua, vào ngày 19/1/1974. . . và nay ngày 19/1 sắp đến, xin hãy một phút lắng lòng nhớ về vùng đất Trảng Bàng, nơi có Tha La Xóm Đạo, sanh quán của vị anh hùng cố Trung Tá Nguỵ văn Thà, Hạm Trưỏng HQ 10. Chàng học trò của trường tiểu học Trảng Bàng năm nao, bên bờ sông Vàm Cỏ, đã cùng 73 chiến sĩ hải quân  nằm xuống trong cuộc chiến bảo vệ quần đảo Hoàng Sa.Nhớ về chuyện xưa, chúng ta cũng không được phép quên ,mà hãy nhớ và nhớ nói lại cùng con cháu :”Hoàng Sa là của Việt Nam,từ hàng nhiều trăm năm.Cụ thể,ngay từ thế kỷ 15,Việt Nam đã khai thác tài nguyên, thụ đắc lâu dài bằng phương pháp hoà bình với cơ quan hành chánh quản trị đúng theo công pháp và hoàn toàn không dùng vũ lực quân sự chiếm cứ từ của một quốc gia nào.Năm 1974, quân Trung Cộng đã đánh chiếm, dùng vũ lực xâm lăng là không có gí trị về công pháp quốc tế”.

          Một mùa Xuân lại về với quê nhà, chúng ta vẫn mãi còn xa xôi.  Nhớ lắm , mà cũng thật buồn thay,vì:

                              Quê nhà tôi ơi, muôn trùng vời vợi

                              Một ngày về, nào ai đợi được đâu

                              Bốn mấy năm rồi, thật đã quá lâu

                              Và phải đợi đến ngày nào đây nữa. . .  H.Việt

(Tài liệu tổng hợp, có tham khảo trang www.myfastforum.org  ,  www.chimviet.freefr/truyenky

www.wikipedia/wiki , www.vnexpress.net , www.doisongphapluat.com . . .).

(Bài viết nầy chúng tôi trích từ trong quyển sách của chúng tôi, được hình thành từ vài ba năm trước đây,nay nhân ngày kỷ niệm xin lại được kính đến quý đồng hương.do vậy không cập nhựt tư liệu đầy đủ hơn (nếu có) và cũng không ghi đầy đủ phần tài liệu tham khảo.Phần trình bày trên ,ngắn gọn xem như một vài phút hoài niệm(Chi tiết hải chiến Hoàng Sa khá nhiều,chúng tôi không ghi ra )Về trận chiến vệ quốc của chúng ta, sẽ xin trong một tài liệu tương đối đầy đủ hơn.Kính mong vui lòng thông cảm, nếu có những gì sơ sót-Hoài Việt/T.A.N-.Cựu SV/QGHC/khoá 14).

 

 

 

 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual