HỌP MẶT HD XUÂN ĐINH DẬU NK 68-75 NGÀY 04/02/2017

LỊCH SỬ ĐA DẠNG CỦA THUỐC PHIỆN


Gần đây chính phủ Canada cũng như Hoa Kỳ đã hợp thức hóa một dự luật về việc sử dụng cần sa (marijuana/canabis) trong việc trị liệu vài căn bệnh tâm thần.

Sự kiện này gây ít nhiều tranh cãi và bàn tán xôi nỗi trong dư luận y khoa, giới báo chí cũng như trong dân gian. Mặc dù có sự hợp thức hóa từ Liên Bang nhưng vẫn còn nhiều bàn cãi ở cấp Tỉnh Bang cũng như chưa có sự đồng nhất về mọi phương diện như việc sản xuất (chính phủ, tư nhân hay tổ chức tập thể) vì đây là một thị trường rất béo bở, việc cạnh tranh trên thương trường, hệ thống thuế má ra sao, việc kiểm soát phân phối sỉ lẽ cần sa, giới hạn về tuổi tác thành niên (18 tuổi bên Canada hay 21 tuổi như Hoa Kỳ) như luật về hút thuốc hay bia rượu…

Ở thời điểm này thì Ontario và vài tiểu bang US đã thông qua việc thương mại hóa cần sa/thuốc phiện trong y khoa trị liệu cũng như không y khoa (non-medical use). Tỉnh bang này đã thành lập một hệ thống phân phối bán sỉ cần sa riêng biệt gồm 150 tiệm chi nhánh của LCBO như hệ thống bán sỉ rượu bia. Hệ thống bán sỉ bia rượu LCBO (wholesale) thuộc chính phủ Ontario và họ đang bàn cãi dự luât mới cho phép tư nhân hợp tác trong việc phân phối bán lẻ (retailer). Chính phủ Ontario cho phép thanh niên từ 19 tuổi có thể mua và dùng cần sa. Trong khi đó bên Hoa Kỳ đã có vài tiểu bang cho phép bán cần sa trộn trong vài món bánh kẹo cho trẻ em. Đồng thời giới khoa học làm nhiều thí nghiệm cho thấy cần sa trong bánh kẹo cỏ tác động làm tổn thương trí thông minh các em. Họ lo ngại rằng nếu Chính phủ Hoa Kỳ không có những chỉ đạo/dự luật chặt chẻ trong việc trộn cần sa trong bánh kẹo sẽ gặp nhiều trở ngại trong tương lai.
Bài viết với mục đích đơn thuần nhắc lại một ít lịch sử về cần sa thuốc phiện.



Năm 1805, một dược sĩ người Đức tên Friedrich Serturner đã làm cách mạng nghành dược bằng cách chiết xuất morphine từ thuốc phiện thô. 

Opium là một loại nhựa trích từ hoa của cây anh túc với kết quả khả thi bằng những dụng cụ tối tân, có lịch sử lâu dài từ năm 3400 TCN trong nghành dược.

Ngày nay ở Irak người Sumeriand sống trong khu vực hiện đại này được biết là đã trồng cây anh túc từ lâu và nhận thức được ảnh hưởng của việc tiêu thụ nước ép của hoa anh túc và tôn vinh như là "niềm vui thực vật."

Điều này được nhận xét qua các tác phẩm nghệ thuật miêu tả những người đàn ông  Sumeriand đang mang những cây anh túc, chúng ta đủ biết được khả năng trị đau của thuốc phiện.

Đến năm 1550 trước Công nguyên, thông tin về thuốc phiện đã lan truyền đến Ai Cập. Tạp chí Ebers Papyrus, một trong những tài liệu y tế quan trọng nhất của Ai Cập cổ đại đã đề nghị dùng nước ép của cây anh túc để dỗ dành những đứa trẻ khóc.
Thuốc phiện cũng là thành phần chính của laudanum, một loại thuốc phổ biến được phát minh bởi bác sĩ Paracelsus vào thế kỷ thứ 16, có lẽ nổi tiếng với khẩu hiệu của ông: "độc dược có trong mọi thứ và không có thứ gì không có chất độc. Liều dùng quyết định thuốc phiện sẽ trở thành một chất độc hay là một liều thuốc trị liệu."

Thuốc phiện là một ví dụ điển hình tiêu biểu của một chất mà có thể vừa là một chất độc và là một liều thuốc. Một liều cao sẽ gây tử vong và một liều nhỏ sẽ có tác dụng làm giảm đau.

Vấn đề mà các bác sĩ phải đối phó là độ mạnh của thuốc phiện rất khác nhau tùy thuộc vào loại cây anh túc được phân lập và số lượng được quy định ít nhiều dựa trên phỏng đoán của y sĩ.

Vấn đề này được ông Serturner giải quyết vào đầu thế kỷ XIX, với mục đích cô lập các nguyên tắc tác dụng được tìm thấy trong thuốc phiện.

Năm 1805, ông Serturner cố gắng cô lập chất kết tinh trắng để thí nghiệm trên con chuột và chó đi lạc, được ghi nhận cả hai tác dụng an thần và có thể gây nguy hiểm. Ông đặt tên cho thuốc mới là "morphium", phỏng theo huyền thoại về thần giấc mơ của Hy Lạp Morpheus, vì thấy rằng thuốc có khả năng gây ngủ.

Sau đó nhà hoá học người Pháp tên Joseph Louis Gay-Lussac tìm cách thay đổi tên "morphium" thành "morphine" theo đúng thuật ngữ sử dụng hậu tố "ine" cho ma túy.

Ít lâu sau ông Serturner đệ trình tác phẩm nghiên cứu của mình để được xuất bản trong một tạp chí khoa học nhưng bị các nhà biên tập thời ấy bác bỏ vì phát minh này chưa hội đủ tính chất khoa học.

Nhiều năm sau, ông Serturner bị rắc rối vì đau răng nên quyết định sử dụng chất liệu mà ông đã thí nghiệm và tìm thấy sự hỗ trợ hoàn toàn hiệu quả. Điều này đã khích động ông thực hiện nhiều thí nghiệm sau đó bằng cách quản lý thuốc cho chính mình và cho ba tình nguyện viên trẻ tuổi. Ông kết luận rằng dùng 30 mg chất phiện gây ra cảm giác rất hạnh phúc, nhẹ nhàng và giảm đau, 60 mg sẽ gây buồn ngủ và 90 mg gây nhầm lẫn và ngủ li bì. Ông đề nghị lượng 15 mg morphine là liều tối ưu.

Tin tức về công trình khám phá của ông Serturner được các bác sĩ năm 1820 tiếp nhận và kê toa morphine tinh khiết cho bệnh nhân. Từ đó không còn là một vấn đề dự đoán về liều lượng nữa.

Nhưng không may, morphine đã gây nghiện cho chính ông Serturner và ông trở nên nạn nhân của chính việc khám phá của mình.

Tuy nhiên, morphine đã đạt được tiếng tâm như là loại thuốc đầu tiên được phân lập ở dạng tinh khiết từ thực vật. Sự phát minh của Serturner đã thúc đẩy những nhà khoa học khác cô lập các hợp chất hoạt động từ thực vật và họ đã chiết được codeine từ thuốc phiện, strychnine từ hạt nấm vomica và đáng kể nhất là quinine từ vỏ cây cinchona. Đây là mốc khởi đầu quan trọng trong ngành dược phẩm hiện đại.

Mặc dù Sertürner đã cô lập được morphine vào năm 1805, phải mất 120 năm sau đó trước khi cấu trúc phân tử của hợp chất được xác định bởi nhà hóa học hữu cơ Sir Robert Robinson.



Năm 1952, ông Marshall D. Gates, Jr. đã thành công trong việc tổng hợp morphine trong phòng thí nghiệm. Đây là một thành tựu thí nghiệm thú vị về cấu trúc phức tạp của hợp chất, nhưng tổng hợp morphine không được khả thi lắm về mặt thương mại.

Cho đến nay morphine được chiết từ chất nhựa cây anh túc và được sử dụng rộng rãi như là một chất giảm đau mặc dù nó bị thành kiến dân gian về vấn đề gây nghiện ngập.
Trong nhiều năm qua các dẫn chất tổng hợp của morphine đã được biến chế với hy vọng sẽ cải thiện việc điều trị của thuốc. Người tiên phong trong việc tổng hợp thành heroin vào năm 1874 là nhà hóa học Charles Romley Alder Wright tại Trường Y khoa Bệnh viện St. Mary ở London.

Ông Wright đã tìm thấy một chất thay thế không gây nghiện như morphine và chế biến ra chất diacetylmorphine bằng cách đun sôi morphine với anhydrit axetic. Điều này đã được công ty Bayer chú ý ở Đức, và sau nhiều lần thử nghiệm thêm, Bayer đã bắt đầu đưa ra thị trường một hợp chất mới như một thuốc giảm đau và một loại thuốc an thần trị ho dưới cái tên "Heroin" - được cho là một phiên bản "hoàn hảo" của morphine.

Đến năm 1913 sự kiện cụ thể rõ ràng là heroin gây nghiện nhiều hơn morphine và hãng Bayer phải quyết định ngừng việc sản xuất heroin.

Hiện nay một số loại thuốc dựa trên sự thay đổi cấu trúc phân tử của morphine được cho là có ít tác dụng phụ hơn morphine (side effect). Oxycodone có lẽ là ví dụ tốt nhất được biết đến với cái tên thương mại khi được phát hành là OxyContin.



Oxycodone có hiệu ứng phấn khởi tương tự như các thuốc opioids khác và là một trong những loại thuốc bị lạm dụng trong đại dịch opioid hiện nay. Các chất này có thể làm giảm đau hoặc sẽ gây ra phiền phức.

Vì thế chúng ta cần có sự lựa chọn khôn ngoan về việc dùng cần sa thuốc phiện trong việc điều trị bệnh tâm thần.

Nguyễn Hồng Phúc
September 2017

Tham khảo: The long and colourful history of Opium by Dr. Joe Schwarcz of the Montreal Gazette, edition September 2, 2017


CHUYỆN TÌNH GIÀN BẦU


*****
Mỗi lần em hái trái bầu
Lại thầm nhớ đến tình đầu đôi ta
Một thời khổ cực đã qua
Canh bầu nấu với tép mồng thơm ngon
Quanh năm đồng áng héo mòn
Mà tình lai láng sắt son vẫn chờ
Hai mùa mưa nắng em mơ
Mong thư anh gởi thẫn thờ tháng năm
Anh đi biền biệt xa xăm
Ruộng vườn đồng áng em chăm lo nhiều
Mẹ già tóc bạc trắng phêu
Lấy tay che nắng mỗi chiều mong con
Xuân xanh một thuở héo mòn
Bao giờ gặp lại cho tròn niềm thương


Trinh Quang Chiếu

NỬA ĐÊM NGUYỆN CẦU


****
Đông về thấm lạnh vào lòng
Thương anh nỗi nhớ ngóng trông tháng ngày
Mong anh lòng chẳng đổi thay
Nỗi buồn cô phụ có ai hiểu dùm
Bạc màu áo trận hoa rừng
Cầu xin ân phước trên từng bước đi
Quân hành anh có nghĩ gì
Riêng em thao thức mỗi khi thư về
Nhớ xưa chuông đổ giáo đường
Gặp nhau thánh lễ vấn vương đậm đà
Cầu cho đôi lứa đừng xa
Ngờ đâu lửa khói anh ra chiến trường
Đời trai chinh chiến phong sương
Anh đi biền biệt em buồn cô đơn
Mong sao hết cảnh oán hờn
Anh về sum họp keo sơn suốt đời
Báo tin bè bạn khắp nơi
Rượu nồng pháo đỏ thiệp mời ngày vui



Trịnh Quang Chiếu

CÁC "MIỆT “ TẠI MIỀN NAM


                   
Miền Nam là phần lảnh thổ sau cùng và tận cùng về phía nam của nước ta. So với hai miền kia, quả có nhiều khác biệt. Khác biệt về nhiều thứ như: con người miền Nam với tánh tình hiền hoà, chơn chất, phóng khoáng  hiếu khách. Đó là về mặt tích cực, về mặt”tiêu cực” (theo một nghĩa nào đó)thì người miền Nam thích hưởng nhàn, sống hơi an phận, không thích tranh đấu, bon chen, và vì vậy không biết nhiều mưu mô, mánh khoé. Và có lẽ vì vậy, mà thưòng bị  thua kém phần nào so với đồng bào nói chung của hai miền kia. Chỉ xin lạm bàn đôi điều, mà chúng ta đã nhận ra với biết bao thấm thía… Riêng xét về mặt hình thể, địa thế, mảnh đất miền Nam cũng khác, khác khá nhiều. Đây là một vùng bình nguyên, thế đất đa phần bằng phẳng, chỉ một ít có những thế đất cao, như đồi, trảng, giồng. Tuy nhiên, cũng phải kề một vài tỉnh vơí những ngọn núi không cao lắm,chỉ khoản dưới ngàn mét như: Chứa Chan, Bà Đen,núi Dinh,Thị Vải  và cụm dãy núi Thất Sơn. Điểm đặc biệt hiếm có của miền Nam là sông nước mênh mông, do hai hệ thống  sông Đồng Nai và Cửu Long. Thêm vào đó còn có cả những kinh đào, là đặc trưng không có ở miền khác. Về cư dân, dĩ nhiên cũng có phần khác biệt, vì nơi nầy vốn xưa có cư dân gốc Cam Bốt, Chàm, người Stiêng, Mạ, Mnông...  cùng là nhóm ngưòi Tàu không nhỏ theo làn sóng đi khai phá do các lảnh đạo của họ là Mạc Cửu, Trần Thưọng Xuyên... Tất cả đã hoà quyện thành một “ngưòi Nam” như chúng ta đã biết. Riêng về địa danh, chúng tôi đã sưu tập, phân tích đúc kết có sàng lọc ,một sự sưu tập chắc hẳn còn quá nhiều thiếu sót, phiến diện. Về địa danh thì miền Nam với những đặc trưng như: nhiều tên mang chữ “cái”, nhiều tên mang chữ kinh, rạch, xẽo, nhiều tên mang âm hưởng ngôn ngữ bản địa(nhứt là từ tiếng Cam Bốt), cũng như vì kỵ húy hay ước vọng hoà bình, mang tên “đẹp” như “phú,mỹ, lợi, hưng... Và điểm đặc biệt khác của miền Nam, về địa danh, còn có ‘miệt’, mà chắc chắn không có tại hai miền kia.
Phần tài liệu nầy, chúng tôi trích ra từ một sưu tập khá dài, chỉ với mục đích góp vui cùng quý đồng hương trong dịp ngơi nghĩ, cuối tuần. Riêng với các bạn trẻ, cũng là một dịp đễ biết thêm đôi chút về quê nhà. Thú thiệt, chúng tôi chỉ âu lo, hay đúng hơn là đau đớn vì biết đâu một ngày nào đó ”Việt Nam tôi đâu, còn hay đã mất”… Và chắc hẳn, không ai còn quan tâm đến mảnh đất hình cong chữ S nằm ngạo nghễ trên bờ biển Đông, còn chi mà biết ‘miệt trên, miệt dưới hay miệt vưòn...  mà tài liệu đuợc trình bày ngắn gọn sau đây.
Theo nhà học giả Paulus Của, trong quyển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị,” định nghiã miệt là: nhỏ mọn, xứ miền, dảy đất. Theo một giải thích khác, miệt có thể phát xuất từ hiện tượng đọc “trại ra”, tức biến âm, từ miền đọc trại thành “miệt”
Tại miền Nam có bao nhiêu miệt, còn tùy theo sự phân chia của vài tác giả. Trước tiên, theo tác giả Nguyễn Vĩnh Long Hồ( Người Long Hồ), trong tài liệu trường thiên mang tên “Đất Phương Nam” (dài trên 2000 trang khổ lớn) đã phân ra các miệt như sau:
          -miệt Đồng Tháp     :gồm Tân An, Mộc Hóa và Cao Lảnh.
          -miệt Vườn              :gồm Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long                                                       Xuyên.
          -miệt Biển                :gồm Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc                                                       Liêu.
          -miệt Thất Sơn      :gồm Châu Đốc và Bảy Núi(Thất Sơn)
          -miệt Thứ U Minh :gồm Cà Mau, Chương Thiện và Rạch Giá.
          -miệt Hà Tiên                  :gồm Hà Tiên, Giàng Thành (Kiên Giang) và Phú Quốc.


Miệt vườn với biết bao cây trái thơm ngon,
như cây dừa xiêm với bao buồng trái nặng trĩu.

Theo một nghiên cứu khác, nhà văn Sơn Nam chia ra các miệt như sau:
          -miệt trên                   :gồm Biên Hòa, Gia Định,Bà Rịa.
          -miệt Cao Lảnh          :gồm vùng Cao Lảnh ngày nay.
          -miệt Đồng Tháp Mười:gồm vùng lòng chảo ĐTM
          -miệt Mỹ Vãng          :gồm Mỹ Tho, Vĩnh Long.
          -miệt Dưới                 :gồm Rạch Giá,Cà Mau.
          -miệt Chợ Thủ,
                    ông Chưỏng      :gồm nơi sông Hậu qua sông Tiền,Long Xuyên.
          -miệt Xà Tón,Bảy Núi  : gồm vùng Thất Sơn, Tri Tôn.
Cũng cần ghi nhận là vùng miền Đông Nam Phần hầu như ít xếp vào các miệt, có chăng là chỉ được gọi chung là “miệt trên” mà thôi. Trong dân gian, người ta còn thoãi mái, đặt thêm những miệt nữa, thí dụ người dân ở miệt miền Tây, có thể gọi vùng  từ Sài gòn trở lên là “miệt trên”, hay ngược lại. Thêm nữa, sự phân chia miệt cũng chỉ tương đối, như xếp tỉnh Bến Tre vào”miệt biển “ cũng không hoàn toàn chính xác, vì tỉnh nầy phần giáp biển, nhưng cũng là tỉnh có những vườn trái cây nổi tiếng như Cái Mơn. . .
Ngoài ra, cũng còn một cách chia đơn giản các miệt như sau:
a/ Miệt vườn          :gồm gọi chung các nơi cao ráo,có vườn cây ăn trái ven sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ.
Đề cập đến miệt vườn, người ta không thể không kể sơ qua về những trái cây rất thơm ngon, hầu như cả miền Tây và một vài tỉnh miền Đông, nơi nào cũng có không ít thì nhiều. Ngày nay, tại “xứ người” đã xuất hiện nhiều cây ăn trái giống hệt như tại quê nhà, nhưng mà, dường như cũng còn gì đó khan khác  thật khó tìm thấy, có phải chăng đó là hương vị quê nhà... Sau đây là một số vườn khá nổi tiếng, ta hãy nhìn lại một vài cây ăn trái thân quen mà bao năm qua ít có dịp nhìn lại
-Vườn trái cây An Bình thuộc huyện Long Hồ (Vỉnh Long).


Hình một cây chôm chôm (nơi vườn trái cây
An Bình).
Tại tỉnh Vỉnh Long,  khá nhiều vuờn cây ăn trái như ở cái Vồn, An Bình. Tại những khu vưòn nầy, cũng có đủ các loại cây trái thơm ngon, như : chôm chôm, xoài, và đặc biệt có giống bưởi Năm Roi, bưởi da xanh. Nhắc đến tên Long Hồ, người ta bỗng như nghe văng vẳng đâu đây những câu ca ngọt lịm của”ông Cò quận Chín’.
-Vườn trái cây Mỹ Khánh, huyện Phong Điền-Cần Thơ.
          Đi từ Cần Thơ về hướng Sóc Trăng, chỉ khoản 6 km.Các vườn vùng nầy có trồng trên 20 loại trái cây như mận, xoài, chôm chôm, dâu... và đặc biệt quít đường. Nhìn hình bên dưới, khách du có còn nhìn những chùm quít vàng tươi, hay gương mặt trăng trắng xinh xinh của gái miệt vườn.



Hình cô gái đang hái quít đường.

-Vườn trái cây Vĩnh Kim, huyện châu thành,Tiền Giang.
Đặc biệt đây có loại vú sửa lò rèn, trái tròn căng, vỏ mỏng, thơm ngọt. Ngoài ra còn sầu riêng, chôm chôm, bưởi. . . Xin lạm bàn  về vú... sửa và cách ăn vú sửa, trước tiên về phân lọai, có vài loại khác nhau như: trái màu tím, hay màu mở gà vàng ươm, trái tròn căng hay hơi thon dài; nhưng mà  cho dù màu sắc hay hình dáng có khác, bên trong vú sửa cũng cùng tràn đầy sửa ngọt. Đặc biệt, cách ăn vù sửa đúng nhứt là phải... xoa bóp vài lượt và nắm kéo cái cuống núm, xong kê miệng vào nút từ từ. Nhớ đừng nút nhanh và mạnh quá, không khéo coi chừng sửa tràn ra dính cả mồm. Đấy, ăn vú sửa có cái thú là vậy.


Vú sửa lò rèn
Nơi xã Vĩnh Kim-Tiền Giang.Tại đây, có ngôi chợ
Mà hầu hết là mặt hàng vú sửa.

Cũng nhân đây, cần ghi nhận đôi chuyện xưa và nay thật vô cùng đáng nhớ. Chuyện xưa là cũng tại gần vùng nầy có con sông “Rạch Gầm”, nơi vua Quang Trung đã đánh tan đội quân Xiêm La (Thái) với 50.000 quân. Chuyện nay, chỉ cách đây khoản trên 40 năm, tại gần nơi nầy có căn cứ Đồng Tâm, bản doanh của sư đoàn 7/BB Việt Nam Cộng Hoà. Vào trưa ngày 30/4/1975, chuẩn tướng Trần văn Hai, tư lệnh sư đoàn đã anh dũng tuẩn tiết. Trước khi nổ súng tự sát, ông đã nhờ người mang về cho mẹ số tiền lương khoản 75.000 đồng VN thời đó. Thật là một vị tướng anh hùng, thật là một đứa con hiếu thảo ngàn đời đáng mến mộ tôn thờ (Xin xem chi tiết cũng trong thiên tài liệu nầy)

-Vườn trái cây Cái Bè-Tiền Giang.
Tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho hay Định Tường cũ, là nơi đồng bằng sông nước. Tại nơi  nầy, cây trái vườn tược sum xuê, đặc biệt nơi Cái Bè, nhiều loại trái cây thơm ngon, đặc biệt có xoài cát Hoà Lộc. Chỉ cách Sài gòn trên dưới 70 km, đây là vựa trái cây lớn nhứt đồng bằng sông Cửu.



Cây mít sai trái
(Vườn ở huyện Cái Bè-Tiền Giang).

-Vườn trái cây Cái Mơn-Chợ Lách-Bến Tre:
Vốn được bao bọc bởi 4 bề sông nước (sông Cổ Chiên và Hàm Luông) với biết bao cây trái thơm ngon, đặc biệt là giống sầu riêng cơm vàng hạt lép. Đây được đánh giá là nơi sản xuất cây giống lớn nhứt Việt Nam. Cũng nên nhắc lại, Cái Mơn là  sinh quán của  một nhân vật thật vô cùng nổi tiếng. Đó là nhà bác học Trương Vĩnh Ký, ông là người có công hiệu đính, hoàn thiện hơn chữ quốc ngữ, để được trở thành một thứ chữ tiện lợi cho chúng ta. Riêng về chuyện cây trái, theo tài liệu có ghi, ông họ Vĩnh khi sang học tại các nơi nơi tu viện tại  Cam Bốt, Mã Lai... khi đi về đã mang một số cây giống, gíúp cải thiện cây trái tốt tươi và thom ngon của miệt Cái Mơn.Cũng nhân đây, lại nói về công lao và sự “bất công” của văn học sử miền Nam. Tại miền Nam, qua một thời gian dài, chẳng hiểu do đâu mà nhiều nhân tài văn học ,trong đó đặc biệt văn hào Trưong Vĩnh Ký và nhà văn Hồ Biểu Chánh  đã bị “ đối xử bất công”,đã bị “cho việt vị” hàng nhiều thế hệ. Công lao và văn tài của hai vị miền Nam nầy đã chỉ được giảng dạy rất hạn chế và “sơ sài” trong giới học sinh trung học và cả đại học.



Hình cây Sầu Riêng
 Nơi vuờn trái cây Cái Mơn-Bến Tre.

-Vườn trái cây Lái Thiêu- Thuận An-Bình Dương
Chỉ cách Sài gòn khoản 20 cây số,rất tiện đi về trong ngày. Tại khu vực nầy, khá nhiều vườn với những trái cây thơm ngon như: xoài, dâu, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt... Du khách có thể vào vườn, tự hái trái hoặc nhờ cả những chủ vườn cung cấp cho mình những bữa ăn đồng quê... Tóm lại, đi vườn trái cây Lái Thiêu là một buổi picnic vô cùng thú vị.



Dâu Lái Thiêu

Ngoài những vườn vừa nêu, cũng còn nhiều nơi khác như miệt Long Thành. (Long Khánh), Kế Sách(Ba Xuyên).Nha Mân (Sa Đéc). . .

b/-miệt đồng(ruộng)        :gồm các vùng tương đối thấp, ít có vườn, và nhiều đồng ruộng                                           như: Sóc Trăng, Long Xuyên, Chương Thiện...
c/-miệt thứ:            :gồm vùng “lâm sắc”(theo sách Đại Nam Nhứt Thống Chí)mà                                                 dân địa phương gọi là miệt thứ, là vùng ven u minh ,gồm Rạch                                               Giá, Cà Mau và phần nào Bạc Liêu.Gọi là miệt thứ, vì vùng                                           nầy có 10 con rạch mang thứ tự từ thứ số một..., con rạch thứ                                                 10 chảy ra biển. Đây là vùng xa xôi, hiền từ, quê mùa.
          Vào thời xa xưa, con gái miệt vườn, gả về miệt thứ u minh, ngồi buồn nhớ quê nhà, cất lên lời ca áo não:
                              Đêm đêm ra đứng hàng ba,
                              Trông về quê mẹ, lệ sa buồn buồn
                              Sương khuya ướt đẩm giàn bầu
                              Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai.
Ngày nay, phương tiên giao thông rộng mở, miệt thứ không còn là nơi “muổi kêu như sáo thổi. . ", nhưng xin hỏi mấy ai không mềm lòng,buồn chết được, khi nghe ca sĩ Phi Phung nỉ non bài “em về miệt thứ”. Người ta không biết,”em” Phi Nhung về miệt thứ có ai cùng về;nếu chưa chắc không ít người tình nguyện về theo. Đề cập đến miệt, người dân miền Tây có suy nghĩ khá ngộ, từ ”miệt đồng” đôi khi cũng dùng để chỉ những dân “quê  mùa”, nhưng chỉ với hàm ý đùa cợt, không phải quá khinh khi.
Trong một tác phẩm mang tên”Văn Minh Miệt Vườn”, tác giả nhà nghiên cứu Sơn Nam cũng đề cập nhiều khía cạnh về nét văn minh nầy. Được biết tài liệu trên xuất bản trước năm 1975, và sau nầy có tái bản với vài thay đổi, kể cả những “thay đổi” ngay con người của ông ấy. Thật đáng tiếc vô cùng. Bỏ qua những “xu thế” đáng tiếc nơi con người Sơn Nam, tác giả đã nêu lên một nhận xét mà chúng ta dễ dàng chấp nhận, là những “cáí hơn” của miệt vườn (so với miệt đồng). Đó là:
-miệt vườn có nhiều huê lợi hơn(làm vườn khoẻ, nhẹ nhàng. . ), nhưng thu lợi nhiều hơn
-đất vườn cao hơn đất ruộng là lẽ đương nhiên vì phải cho cây trái không bị úng thủy.
-và đặc biệt con gái miệt vườn đẹp và trắng hơn, vì không phải lội xuống bùn xình,dải dầu mưa nắng. Cụ thể như con gái thuộc vùng Nha Mân (Sa Đéc) đẹp có tiếng. Đây chỉ là trên cơ bản, nhiều khi con gái miệt ruộng lại “rắn rỏi, mặn mà “hơn. Riêng những chàng trai nông dân, đặc biệt miền Tây sông nước, ngày xưa cách đây khoản nửa thế kỷ, đa số chỉ quên với ruộng vườn. Nơi miệt đồng, miệt ruộng như Sóc Trăng, trai lớn lên chỉ biết làm ruộng mà thôi. Tánh tình thiệt thà chơn chất trong mọi thứ, kể cả chuyện “ghẹo gái’ như một chàng trai miệt Ngả Năm với lời tỏ tình thật dễ thương, qua bài:

                             

                              GHẸO  NGƯỜI  DƯNG
                    Xông Ngả Năm chải dìa năm ngả
                    Tui dí em chắc có lươn diên
                    Mới gặp đả thấy thuông liền
                    Mến người dân dả, chớ gái thị thiền thiếu chi. . .

                    Nói ga, chỉ xợ em cười
                    Tui đây chỉ thích những người gái quê
                    Mùi dầu dừa,tui gất mê
                    Mê luôn cả mái tóc thề của em.
                    Gái thị thiền,tui hổng ham
                    Cưới dìa hỏng biết chịu làm... guộng không ???
                    Hay là chỉ biết ngồi không
                    Lo xửa bóng xắc, buồn lòng tía tui.
                    Em ơi, đây có mấy lời,
                    Tui ti ít học, nhưng người xiêng năng
                    Mần guộng dỏi nhứt chong làng,
                    Mấy thằng chạc tủi, hổng bằng tui đâu.
                    Em mà ưng chịu làm dâu,
                    Tía má xẻ xắm mâm chầu hỏi ngay.
                    “Cưới dợ thì cưới liền tai,
                    Chớ để lâu ngày,thiên hạ dèm pha”
                    Ga diên xẻ thưa má ba,
                    Đến gặp thầy Xáu, coi ga tốt ngày
                    Tía má tui tính lâu nay,
                    Tui là con út, “phần mầy hưởng  chung”.
                    Guộng dườn còn xáo chục công
                    Em dìa hai đứa mình cùng chung lo.
                    Tía má theo ông theo bà,
                    Căn nhà thừa tự, xẻ là của tui.
                    Đây đã kể gỏ đầu đui,
                    Đó làm chồng dợ, đề gồi đẻ con
                    Chỉ chừn phản  một chục chơn,
                    Có nếp, có tẻ,  thì còn dì dui.
                    Em ôi, xao hỏng chả lời
                    Thò lỏ con mắt nhìn tui mà cười???
( bài thơ trên là “tâm tình” của một cậu dân quê tại Ngả Năm(Sóc Trăng),mà cũng cả miền Nam, vào khoản
thập kỷ 1950. Lời lẽ mộc mạc, phát âm sai chánh tả. . . Sau đây là nguyên bài đúng giọng và chánh tả.



                              GHẸO  NGƯỜI  DƯNG
                    Sông Ngả Năm chảy về năm ngả
                    Tui với em chắc có lương duyên
                    Mới gặp đã thấy thương liền
                    Mến người dân dả, (chớ gái) thị thiền thiếu chi(1)

                    Nói ra chỉ sợ em cười
                    Tui đây chỉ thích những người gái quê
                    Mùi dầu dừa, tui rất mê(2)
                    Mê luôn cả mái tóc thể của em.
                    Gái thị thiền,tui hổng ham
                    Cưới dìa hỏng biết chịu làm ruộng không?
                    Hay là chỉ biết ngồi không,
                    Lo sửa bóng sắc,buồn lòng tía tui.
                    Em ơi, đây có mấy lời
                    Tui tuy ít học, nhưng người siêng năng.
                    Mần ruộng giỏi nhứt trong làng
                    Mấy thằng trạc tuổi hổng bằng tui đâu.
                    Em mà ưng chịu làm dâu,
                    Tía má sẽ sắm mâm trầu hỏi ngay
                    Cưới vợ thi cưới liền tay
                    Chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha
                    Ra giêng sẽ thưa má ba,
                    Đến gặp thấy Sáu, coi ra tốt ngày.
                    Tía má tui tính lâu nay,
                    Tui là con út, “phần mầy hưởng chung”.
                    Ruộng vườn còn sáu  chục công,
                    Em dìa hai đứa mình  cùng chung lo.
                    Tía má ... theo ông theo bà,
                    Căn nhà thừa tự, cũng là của tui.
                    Đây đã kể rõ đầu đuôi,
                    Đó làm chồng vợ, để rồi . . đẻ con.
                    Chỉ chừng khoản một chục trơn,
                    Có nếp có tẻ, thì còn gì vui
                    Em ơi, sao hổng trả lời
                    Thò lỏ con mắt, nhìn tui mà cười-   Hoài Việt

(1)- thị thiền là thị thành, (2)thời xưa, các cô thưòng dùng dầu dừa chài tóc cho óng mưọt. Ước gì, tui trẻ lại như khoản 1960, và được một lần ngửi mùi dầu dừa trên mái tóc của một cô thôn nữ Sóc Trăng quê mình.

PS: Vì đây là tài liệu trích ra từ bài biên khảo khác, chúng tôi đã không ghi phần tài liệu tham khảo, cùng hững chú thích khác.  Chúng tôi sẽ cố gắng cho ra mắt baì biên khảo về “Miền Nam”.
         


 
ĐỒNG HƯƠNG © 2012 - Xây dựng bởi Blog Thiết Kế – Hỗ trợ bởi Người Áo Lam - Giao diện Rumah Dijual